VNAF & me

VNAF & me All about VNAF, USAF, USAAVN & me.

09/05/2026
TẬP "BÒ" NƠI XỨ NGƯỜI — MẤY LỜI RÚT RUỘT CHO ANH CHỊ EM SẮP SANG ĐOÀN TỤNgười ngoài nhìn vào chỉ thấy cái Visa hồng rực,...
09/05/2026

TẬP "BÒ" NƠI XỨ NGƯỜI — MẤY LỜI RÚT RUỘT CHO ANH CHỊ EM SẮP SANG ĐOÀN TỤ

Người ngoài nhìn vào chỉ thấy cái Visa hồng rực, chỉ người trong cuộc mới thấm cái sức nặng của cơm áo gạo tiền nơi xứ người.

Tình yêu vượt đại dương thì giỏi lắm, nhưng nhiều khi lại ngã ngựa chỉ vì cái xấp hóa đơn mỗi tháng.

Cái câu "Một người kiệt sức vì lao động, một người kiệt sức vì cô đơn" — nói thiệt, đúng hai vế này thôi đã giải thích cho 90% mấy vụ rạn nứt sau khi sang đoàn tụ rồi.

Cảm ơn cả nhà bài trước đã thả tim rồi đả trải lòng chia sẻ xôm tụ quá. Thấy bài lên hơn 23k lượt xem mà mình vừa vui vừa thương. Hóa ra cái cảnh "vỡ mộng" lại là món đặc sản mà dân xa xứ ai cũng từng nếm qua.

Nhiều bạn hỏi mình: "Rồi giờ trót yêu, trót cầm visa sang đây rồi thì làm sao để không giẫm vào vết xe đổ đó hả chị/anh?"

Ngẫm lại hồi ở Việt Nam yêu nhau thơ mộng lắm. "Em ăn gì anh cũng ăn", "Anh đi đâu em đi đó", "Miễn có nhau là hạnh phúc". Qua tới đây bước vô đời sống thường nhật mới ngó nhau dở khóc dở cười:

"Em ăn gì anh cũng ăn… nhưng ăn xong ai rửa chén?"

"Anh đi đâu em đi đó… nhưng ai lái xe chở đi?"

"Miễn có nhau là hạnh phúc… nhưng cuối tháng tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm ai trả?"

Thực tế nó phũ vậy đó. Người ở lâu thì gánh áp lực tài chính, trong đầu lúc nào cũng quay mòng mòng chuyện tiền bạc nên dễ gắt gỏng. Người mới sang thì hụt hẫng, tủi thân, cô đơn nên thành ra nhạy cảm. Một người thì cần được nâng như nâng trứng, còn một người thì mệt mỏi vì phải gánh vác. Từ "anh yêu em" nó chuyển dần thành "tháng này tiền nhà tới rồi em". Cao trào nhất là câu lãng mạn nhất mỗi tối lại biến thành: "Mai em đi làm chưa?"

Nói vui vậy thôi chứ trải qua rồi mới hiểu: Hôn nhân xa xứ không chỉ cần tình yêu, mà cần sự kiên nhẫn và cùng nhau gánh cái combo cơm-áo-gạo-tiền. Hôm nay mình ngoi lên chia sẻ mấy kinh nghiệm xương máu cá nhân, mộc mạc thôi nhưng cực kỳ thực tế. Anh chị em dắt túi vài điều này giúp mình:

1. Hạ cái Tôi xuống, chuẩn bị tâm lý làm... "SƠ SINH" tập hai Ở Việt Nam mình có làm ông này bà nọ, làm sếp hay làm chủ thì bước chân xuống sân bay xứ người coi như bấm nút reset. Ngoại ngữ người ta nói mình ngơ ngác, mình nói người ta bật ngửa. Mua cái gì cũng nhẩm nhẩm nhân tỷ giá rồi giật mình. Cho nên cứ xác định sẵn: 6 tháng đầu mình chỉ là đứa trẻ tập bò. Đã là trẻ con thì dốt chút, chậm chút cũng chẳng sao. Đừng ngại, đừng sĩ diện, từ từ rồi mình khôn ra hết.

2. Bằng lái xe là "đôi chân" Sống ở nước ngoài mà không tự đi lại được thì đúng nghĩa bị cầm tù tại gia. Chồng hoặc vợ đi làm từ sáng tới tối, mình ở nhà nhìn 4 bức tường, muốn mua bó rau cũng phải đợi người ta rảnh chở đi. Lâu dần không phát điên mới lạ! Chưa đi làm cũng được, nhưng việc ĐẦU TIÊN sang đây là phải tập đi lại cho dạn. Tự mò ra siêu thị mua được bó rau muống là thấy đời nó sáng lạn liền.

3. Bài toán tài chính: Cứ sòng phẳng từ lúc còn ở Việt Nam Đừng có kiểu "Anh nuôi em" hay "Qua đây rồi tính". Mấy câu đó lên phim thì đẹp chứ sang đây nhìn hóa đơn nó gửi về mỗi tháng là hết thấy lãng mạn nổi. Trước khi đi, hai vợ chồng cứ ngồi lại bấm máy tính công khai: Một tháng bên này xài hết bao nhiêu? 6 tháng đầu chưa đi làm thì tiền tiết kiệm có đỡ nổi không? Rõ ràng từ đầu thì sang đây không ai phải uất ức vì nghĩ mình "bị gánh nặng" hay "bị phụ thuộc".

4. Người ở trước làm ơn "HIỀN" lại, người mới sang làm ơn "DẠN" lên Mấy bạn ở lâu rồi đừng có gắt. Nhớ lại ngày đầu mình mới sang cũng ngơ ngác như bò đeo nơ vậy thôi, kiên nhẫn chỉ bạn đời từng chút một. Mấy bạn mới sang thì đừng ru ngủ mình trong 4 bức tường. Tự mở mạng học ngoại ngữ, tập ra sân đi dạo, tự tìm niềm vui cho mình chứ đừng biến bạn đời thành nguồn sống duy nhất.

Qua được mấy cái cửa ải tiền nhà, tiền xe, ngoại ngữ, bằng lái với cái máy giặt... thì chắc tình yêu cũng đạt chuẩn chịu lực vượt đại dương rồi đó cả nhà.

Cuộc sống xứ người phũ nhưng nó sòng phẳng. Ai chịu khó kiên nhẫn qua được 1-2 năm đầu "sốc nhiệt" thì mọi thứ sẽ đâu vào đấy thôi.

Ở đây có anh chị em nào ngày đầu mới sang từng có kỷ niệm "quê độ" hay câu chuyện dở khóc dở cười nào không?

— feeling blessed in McMechen, WV.

NẾU ĐƯỢC THƯỢNG VIỆN HOA KỲ PHÊ CHUẨN, ÔNG HÙNG CAO SẼ QUẢN LÝ MỘT “ĐẾ CHẾ” QUÂN SỰ KHỔNG LỒ ĐẾN MỨC NÀO?Nhiều người ngh...
09/05/2026

NẾU ĐƯỢC THƯỢNG VIỆN HOA KỲ PHÊ CHUẨN, ÔNG HÙNG CAO SẼ QUẢN LÝ MỘT “ĐẾ CHẾ” QUÂN SỰ KHỔNG LỒ ĐẾN MỨC NÀO?

Nhiều người nghe chức vụ Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ (Secretary of the Navy) có thể nghĩ rằng ông Hùng Cao chỉ phụ trách những chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ.

Thật ra không phải!

Nếu được Thượng Viện Hoa Kỳ phê chuẩn, ông Hùng Cao sẽ trở thành người đứng đầu về mặt dân sự của Bộ Hải Quân (Department of the Navy) — một cơ cấu bao gồm cả:

Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Navy), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps).

Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến có tổng cộng khoảng 621.500 quân nhân, bao gồm lực lượng hiện dịch và trừ bị, cùng hơn 200.000 nhân viên dân sự.

Như vậy, ông Hùng Cao sẽ đứng đầu một tổ chức có tổng nhân sự hơn 800.000 người.

- Ngân sách gần 400 tỷ Mỹ kim

Dự toán ngân sách tài khóa 2027 dành cho Bộ Hải Quân vào khoảng 377,5 tỷ Mỹ kim.

Khoản ngân sách này bao gồm lương và phúc lợi quân nhân, đóng mới và mua chiến hạm, hàng không mẫu hạm, tàu ngầm nguyên tử, khu trục hạm, máy bay, hỏa tiễn, các hệ thống không người lái, bảo trì, nghiên cứu và phát triển, căn cứ, huấn luyện, tuyển mộ, trang bị và hậu cần.

Ngân sách phải được Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn thuận và chi tiêu theo luật cũng như các khoản phân bổ của Quốc Hội.

- Khoảng 288 chiến hạm

Theo kế hoạch ngân sách hiện hành, Hải Quân Hoa Kỳ có khoảng 288 chiến hạm thuộc lực lượng chiến đấu chính (battle-force ships), bao gồm:

• 11 hàng không mẫu hạm (aircraft carriers)
• Khoảng 10 chiến hạm đổ bộ lớn (amphibious warfare ships)
• Khu trục hạm (destroyers)
• Tuần dương hạm (cruisers)
• Tàu chiến đấu ven biển (littoral combat ships)
• Tàu ngầm nguyên tử (nuclear submarines)
• Tàu đổ bộ (amphibious ships)
• Tàu tiếp vận và tàu hỗ trợ (auxiliary and support ships)

Và đó mới chỉ là phần Hải Quân. Ông Hùng Cao còn phụ trách Thủy Quân Lục Chiến

Bộ Hải Quân bao gồm cả Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến. Do đó, ông Hùng Cao sẽ là lãnh đạo dân sự cao nhất của cả Hải Quân Hoa Kỳ và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, cùng với hàng không, hạm đội, tàu ngầm, hỏa tiễn, hệ thống không người lái, đóng tàu, căn cứ, cơ sở quân sự và ngân sách gần 400 tỷ Mỹ kim.

Nhưng ông Hùng Cao không phải là Tổng Tư Lệnh. Tổng Thống Hoa Kỳ mới là Tổng Tư Lệnh (Commander in Chief) của Quân Lực Hoa Kỳ.

Bộ Trưởng Chiến Tranh (Secretary of War) đứng đầu Bộ Chiến Tranh (Department of War). Dưới quyền Bộ Trưởng Chiến Tranh có ba Bộ Trưởng quân chủng:

• Bộ Trưởng Lục Quân (Secretary of the Army)
• Bộ Trưởng Hải Quân (Secretary of the Navy)
• Bộ Trưởng Không Quân (Secretary of the Air Force)

Bộ Trưởng Hải Quân là một chức vụ dân sự, chịu trách nhiệm về ngân sách, nhân sự, trang bị, xây dựng lực lượng, căn cứ, bảo trì và khả năng sẵn sàng của Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến. Việc chỉ huy tác chiến trực tiếp thuộc hệ thống chỉ huy quân sự.

Nếu được Thượng Viện phê chuẩn, ông Hùng Cao sẽ trở thành một trong những người Mỹ gốc Việt giữ chức vụ dân sự cao nhất trong lịch sử Quân Lực Hoa Kỳ.

Từ một người tị nạn Việt Nam, gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ, trở thành sĩ quan Hải Quân, rồi được Tổng Thống Hoa Kỳ đề cử vào chức Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ — đây quả thật là một hành trình đặc biệt.

🇺🇸 621.500 quân nhân
👨‍💼 Hơn 200.000 nhân viên dân sự
⚓ Khoảng 288 chiến hạm
💰 Gần 400 tỷ Mỹ kim ngân sách

Một trách nhiệm khổng lồ — và cũng là một niềm vinh dự đáng kể cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt.







DẠ LAN -TIẾNG NÓI ĐI QUA CHIẾN TRANHCó những bản nhạc đã ngừng phát từ lâu.Có những đài phát thanh chỉ còn trong ký ức.N...
09/04/2026

DẠ LAN -TIẾNG NÓI ĐI QUA CHIẾN TRANH

Có những bản nhạc đã ngừng phát từ lâu.
Có những đài phát thanh chỉ còn trong ký ức.
Nhưng có những giọng nói, dù hơn nửa thế kỷ trôi qua, vẫn làm người ta nghẹn lòng khi bất chợt nghe lại.

Đó là Dạ Lan.

Đối với hàng trăm ngàn quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Dạ Lan không chỉ là một chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Quân đội. Đó là người bạn đồng hành trong những đêm dài chiến tranh.

Ngày ấy, giữa rừng sâu Trường Sơn, trên đỉnh đồi lộng gió ở Kontum, giữa những căn cứ heo hút của Quảng Trị hay những đồn bót tận cùng Đồng bằng sông Cửu Long, khi mặt trời vừa khuất, người lính lại lấy chiếc radio nhỏ chạy bằng pin, kéo cao ăng-ten rồi kiên nhẫn dò đúng làn sóng quen thuộc.

Tiếng nhạc hiệu cất lên. Rồi một giọng nói dịu dàng vang vọng trong màn đêm:
“Thân ái kính chào các anh chị chiến sĩ…”
Chỉ bấy nhiêu thôi, bao nhiêu mệt mỏi của một ngày hành quân dường như lắng xuống.

Ngoài kia vẫn còn tiếng đại bác.
Vẫn còn những cuộc phục kích.
Vẫn còn những chuyến trực thăng tải thương trong đêm.
Nhưng trong khoảnh khắc ấy, người lính được trở về với một góc rất bình yên của tâm hồn.

Dạ Lan không nói về chiến thuật.
Không bình luận những trận đánh.
Không kể công hay hô hào.
Chương trình chọn một cách khác: đem hậu phương đến với tiền tuyến bằng tiếng hát, lời nhắn, những bức thư và những câu chuyện đời thường.

Một bản nhạc“Xin còn gọi tên nhau”.
Một khúc “Nửa hồn thương đau”.
Một lá thư của người mẹ gửi con trai ngoài mặt trận.
Hay chỉ là lời chúc ngủ ngon của người xướng ngôn viên.

Những điều tưởng chừng rất nhỏ ấy lại trở thành nguồn động viên vô giá.
Có những người lính sau này kể rằng, mỗi khi nghe Dạ Lan, họ nhớ mẹ.
Có người nhớ người yêu.
Có người nhớ đứa con chưa kịp biết mặt.
Và cũng có người lặng lẽ quay đi để đồng đội không nhìn thấy nước mắt.
Chiến tranh cướp đi rất nhiều thứ.
Nhưng Dạ Lan đã giữ lại cho người lính một phần của quê hương.
Một phần của tình người.
Một phần của niềm hy vọng.

Sau năm 1975, tiếng nói ấy không còn phát trên bầu trời Việt Nam nữa.
Chiếc radio năm xưa cũng đã cũ.
Nhiều người lính đã đi qua những năm tháng tù cải tạo.
Nhiều người vượt biển.
Nhiều người định cư khắp năm châu.
Thế nhưng, cứ mỗi lần tình cờ nghe lại tiếng nhạc mở đầu của Dạ Lan trên một đoạn băng cũ hay trên mạng Internet, họ lại lặng người.

Không phải vì nhớ chiến tranh.
Mà vì nhớ tuổi trẻ.
Nhớ những người đồng đội đã nằm lại.
Nhớ một thời đất nước chia đôi.
Nhớ một giọng nói đã từng sưởi ấm biết bao tâm hồn giữa những đêm mưa, giữa tiếng đại bác, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Có người hỏi:
“Điều gì còn lại sau chiến tranh?”
Có lẽ, ngoài những nghĩa trang, những tấm bia và những trang sử, còn có những ký ức rất đẹp.
Dạ Lan chính là một ký ức như thế.
Một chương trình phát thanh.
Một giọng nói.
Nhưng đã trở thành một phần của lịch sử, của văn hóa và của trái tim biết bao thế hệ người lính Việt Nam Cộng hòa.
Bởi có những tiếng nói không bao giờ già đi theo năm tháng.

Và có những âm thanh, chỉ cần vang lên một lần, cũng đủ đưa cả một đời người trở về với những đêm không thể nào quên.

- Phạm Sơn liêm

1968, năm tôi thi Tú Tài toàn phần ở Huế, có con gái vị bộ trưởng ở Sài Gòn cũng thi, chỉ thiếu nửa điểm để đậu.Mẹ của c...
09/04/2026

1968, năm tôi thi Tú Tài toàn phần ở Huế, có con gái vị bộ trưởng ở Sài Gòn cũng thi, chỉ thiếu nửa điểm để đậu.

Mẹ của cô này là vợ vị bộ trưởng bộ giáo dục VNCH bị bệnh sắp từ giã cõi đời chỉ muốn nghe được con đậu để nhắm mắt xuôi tay.

Vị bộ trưởng điện thoại cho thầy chánh chủ khảo kỳ thi và xin thầy chủ khảo bỏ qua nửa điểm cho cô con gái đậu trước khi mẹ cô qua đời!

Nhưng thầy Chánh Chủ khảo từ chối, thầy nói nếu cho con của bộ trưởng đậu thì tất cả thí sinh thiếu nửa điểm của cả nước cũng phải đậu hết, điều này làm giảm tính xác thực của tấm bằng tú tài mà nhà nước đã giao cho tôi phụ trách bộ trưởng...

Các thầy của trường Đại Học Y Khoa Huế cái thời tôi học cũng thế, rất thương sinh viên nhưng không bao giờ vì tình cảm hay thân quen gì đó mà nương nhẹ trong các kỳ thi cho bất cứ sinh viên nào.

CÓ NHỮNG "NGƯỜI THẦY" NHƯ THẾ.

Nhìn tấm hình (ảnh dưới), có thể thấy phong thái học hành tuyệt vời của Đại học Y khoa Sài Gòn trước 1975, khi sinh viên nghe như uống từng lời của giáo sư Phạm Biểu Tâm: khoa trưởng khoa Y... Việt Nam đầu tiên của trường.

Một chuyện đáng nhớ về giáo sư là vào đầu thập niên 60, trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học Y khoa Sài Gòn, Ngô Đình Lệ Thuỷ (con của Cố vấn Tổng thống Ngô Đình Nhu) thi không đạt điểm đậu.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Chủ tịch Hội đồng thi đã từ chối cho Lệ Thuỷ vào học, mặc dù có sự can thiệp của Bộ trưởng Giáo dục thời đó.

Giáo sư Ngô Gia Hy nói: "Ở Sài Gòn, trong cương vị Giám đốc Bệnh viện Bình Dân, khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn, quyền Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, Anh (GS Tâm) cũng vẫn tấm lòng đôn hậu, nhưng rất cương trực điều hành và cư xử tốt với tất cả mọi người.

Anh đã cương quyết thực hiện công bằng trong các kỳ thi tuyển sinh vào trường Y khoa, vượt qua những áp lực dựa vào quyền thế.

"Anh có đặc tính khiêm tốn, dù ở địa vị cao, mà Anh không hề nói xấu một người nào.

Ngoài ra, Anh còn là người con hiếu thảo, là giáo sư nhưng mỗi khi về Huế, Anh vẫn mặc áo the thâm hầu hạ phụ thân đã cao tuổi như một người con nhỏ.

Đối với những thầy cũ của mình, bất cứ ở đâu, trong trường hợp nào, Anh vẫn tỏ lòng kính trọng, lắng nghe…”.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, và sau đó qua trung học phổ thông tại Vinh.
Đến lúc trung học chuyên khoa (Tú tài), ông theo học tại Trường Quốc học Huế và Trường Bưởi (Hà Nội).

Năm 1932 ông bắt đầu theo học Trường Thuốc tại Hà Nội.
Khi đã tốt nghiệp, ông tiếp tục làm nội trú bệnh viện trong nhiều năm để học hỏi thêm kinh nghiệm.

Năm 1947 ông đệ trình luận án Tiến sĩ y khoa với đề tài là "Introduction de la Médecine occidentale en Extrême-Orient" (Sự du nhập của y khoa Tây phương vào các nước miền Viễn đông).

Năm 1948 ông trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ y khoa (professeurs agrégés des universités, để làm Giáo sư) tại Paris, đồng thời với bác sĩ Trần Quang Đệ, một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam.

Ông trở về nước làm Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội suốt trong khoảng thời gian từ 1949 đến 1954.

Ông cũng kiêm nhiệm chức Giám đốc Bệnh viện Yersin tại Hà Nội và sau đó là Phó giám đốc Trường Quân Y.

Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào nam và trở thành Giám đốc kiêm Trưởng khoa Ngoại tại Bệnh viện Bình Dân.
Một năm sau, ông trở thành khoa trưởng người Việt đầu tiên của Trường Đại học Y Dược Sài Gòn.

Nhưng ít năm sau đó, ông từ chối lời mời làm Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, nhất quyết ở lại với Trường Y khoa để tiếp tục chương trình đã theo đuổi từ nhiều năm.

Sau 1975, giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn ở lại Việt Nam.

Một học trò cũ của ông là Ngô Thế Vinh viết: "Thầy Tâm vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế-độ mới, vì đức độ tài-năng và nhân-cách đặc-biệt của Thầy.

Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng.

Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch.

Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dạy cho các thế hệ môn sinh.

Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy.

Bằng cớ là nhà của thầy Tâm ít nhất đã hai lần bị Công an Thành phố xông vào lục xét, và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì..."

Thầy Phạm Biểu Tâm mất năm 1999 tại Mỹ sau thời gian dưỡng bệnh.

Tháng 12 hàng năm là dịp tưởng niệm ngày mất của thầy.

Mỗi khi nhớ tới thầy, tôi rất xúc động, bởi thầy thực sự là một tri thức Việt Nam rất hiếm có kể cả về tài năng, đức độ, nhân cách.

Tiếc thay... giờ đây ở ta rất khó tìm thấy những giáo sư như thầy Phạm Biểu Tâm.

-Nguyễn Thị Bích Hậu

Đã có một thời: LƯƠNG Y NHƯ TỪ MẪU

Make America Roads Safer.
09/04/2026

Make America Roads Safer.

86 truck drivers were ARRESTED and trucks were left abandoned in just 3 days during a massive federal trucking crackdown by Donald Trump. 60 Operation Highway Shield hit Illinois, Indiana, lowa and Ohio, with federal inspectors targeting unqualified drivers, unsafe trucks and alleged CDL fraud. Authorities say the operation resulted in roughly 766 out-of-service orders and 86 truck driver arrests.

This isn't slowing down. Federal officials say more than 26,000 drivers have been placed out of service for English-language violations, thousands of allegedly fraudulent CDL schools have been shut down, and more than 30,000 improperly issued CDLs have been revoked.

TÀN DƯ TƯ BẢNLê Đình Khẩn(Trích tự truyện “Nơi làng quê heo hút” )Sau sự kiện Tháng Tư, 1975, tôi rời đất Bắc vào kiếm s...
09/04/2026

TÀN DƯ TƯ BẢN
Lê Đình Khẩn
(Trích tự truyện “Nơi làng quê heo hút” )

Sau sự kiện Tháng Tư, 1975, tôi rời đất Bắc vào kiếm sống ở miền Nam: Sài Gòn, Vĩnh Long.

Ở vùng đất mới này, có thời gian, tôi giống như một người nội trợ. Đôi khi, tôi cảm thấy thú vị từ công việc chợ búa, mua bán này. Vì ở môi trường ấy, tôi biết thêm được nhiều thứ, về một xã hội tư bản cách đó chưa lâu, mà tôi chỉ biết qua sách báo xã hội chủ nghĩa miền Bắc từng mô tả.

Cái “văn hóa mua bán” của người miền Nam, khác người miền Bắc rất xa .

Sau năm 1975, ở miền Nam, tuy xã hội chủ nghĩa đã thay thế , nhưng “tàn dư chủ nghĩa tư bản”* vẫn còn “rơi rớt lại” rất nhiều. Câu nói: “Thuận mua vừa bán”, luôn thể hiện rất rõ . Người bán không nói thách quá, hay hét giá , để rồi người mua phải cò kè bớt một thêm hai .

Hồi đầu, lúc mua cái gì đó ở chợ, ở tiệm, tôi cũng thường bắt chước người miền Bắc, mặc cả trả giá. Nhưng đều được người bán nhẹ nhàng trả lời : “Giá nhứt định”. Có người còn giải thích thêm là, giá mua vào bao nhiêu, chỉ lời được bao nhiêu, và mong khách hàng hiểu cho. Nghe rất sòng phẳng, thỏa đáng, dễ chấp nhận.

Những tiểu thương buôn bán ở chợ, không hề trương lên những khẩu hiệu như là : “Vui lòng khách đến , vừa lòng khách đi”; hoặc: “Khách hàng là thượng đế” như trong các cửa hàng mậu dịch quốc doanh của nhà nước sau này. Nhưng họ luôn tìm cách làm hài lòng người mua.

Họ có vẻ rất hiểu về nguyên lý “cộng sinh” của vạn vật trên thế giới này. Nghĩa là “dựa vào nhau mà sống, đôi bên đều có lợi”.

Tôi còn nhớ, chỉ mới vài lần ra chợ mua đồ ăn thức uống, rau củ quả, mà những lần sau, tôi vừa xuất hiện, thì người bán hàng đã vồn vã, như là quen biết từ lâu rồi.
Những câu chào hỏi kiểu như là:
- “Hôm nay ‘cưng’ lấy mấy kí ( kilogam, kg, cân)?”
Hoặc:
- “Lấy một chục như hôm qua hen ?”
Hoặc:
- “ Cân loại chiên (rán) rồi , đặng về khỏi chiên nghe ! v.v..

Miệng họ vừa nói, tai vừa nghe , tay thì thoăn thoắt chọn lựa, cân, đong, đếm, bỏ vào bịch (túi) ni lông, buộc lại gọn gàng, đưa cho người mua , rồi tính tiền. (khách đi rồi, còn dặn với theo: Hôm sau nhớ ghé ủng hộ nghe

Đôi khi người bán tự ý cho người mua, thêm một thứ gì đó , làm cho người mua cảm thấy vui. Chẳng hạn, mua bó rau thì cho thêm trái ớt , hay cọng hành, cọng ngò v.v..

Có lần, tôi ghé hàng trái cây, nói là tôi mua một chục trái vú sữa ( loại trái cây tôi thấy lần đầu), Chị bán hàng tay thoăn thoắt lựa mười hai trái, bỏ vào bịch đưa cho tôi. Tôi nhắc chị đếm lộn rồi, dư hai trái. Chị nhìn tôi cười vẻ trìu mến và "thương hại", rồi nói ,không lộn đâu, "chục" của người Nam đó chú ạ. Chị còn nói, nếu chú đi về miền Tây như Vĩnh long, Cần Thơ ... , thì "chục" là mười bốn hoặc mười sáu. Còn về miệt vườn thì chục không biết là bao nhiêu ! Chị lại cười. Còn tôi thì tròn xoe mắt vì thấy lạ !

Chính những câu hỏi thân thiện , những câu chuyện cởi mở, những hành vi đẹp trong buôn bán ấy của người bán hàng, đã giúp kéo người mua lại gần, tạo tinh thần hợp tác. Đồng thời ngầm ý khẳng định cuộc giao dịch, mua bán, nhất định phải được xảy ra !

Tôi nghĩ, thì ra xã hội theo “cơ chế thị trường của tư bản” không phải mọi thứ đều xấu, như tôi từng được giáo dục trước đó.(mà dường như trái ngược).

Khi sống ở miền Bắc, vào những năm đầu thập niên bảy mươi, hàng tháng tôi phải đến các cửa hàng quốc doanh của nhà nước, xếp hàng mua lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, dầu hỏa v.v.. Việc mua bán, vào thời kỳ mà người ta quen gọi là “quan liêu bao cấp” ấy, diễn ra thật đáng khiếp sợ: Cảnh chen lấn, tranh giành, ẩu đả, chửi bới nhau, xảy ra thường xuyên. Khách hàng giống như một đám ăn mày đói khát, chầu chực để được phát chẩn bần, hoặc được bố thí..

Phiếu mua thịt (dùng để mua thịt), nhưng người bán đưa cho da hoặc xương ; mua gạo nhưng đưa cho ngô (bắp) hoặc sắn (khoai mì) cũng phải chịu, nếu như không “móc ngoặc”* được với nhân viên bán hàng. Những người “mậu dịch viên” ấy mới thật sự là thượng đế. Họ muốn quát mắng ai cũng được. Dù khách hàng là những người đáng tuổi cha mẹ ông bà của họ! Vì miếng ăn mà phải nhẫn nhịn cho qua. Người mua không hề có lựa chọn. Những nơi như thế là đất sống của “giai cấp” lưu manh, bọn móc túi, bọn “phe phẩy” *

Vì thế , thời kỳ đầu mới sống ở miền Nam, tôi thấy mọi thứ đều lạ lẫm. Không riêng tôi, mà bất kỳ ai đã từng sống ở miền Bắc XHCN, rồi vào Nam thì đều có cảm giác như vậy Kể cả những trí thức từng du học ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu về cũng thế...

Có mấy em sinh viên lớp ngữ văn Đại học Cần Thơ, đã kể lại cho tôi nghe, câu chuyện về một “giáo sư thỉnh giảng” từ Hà Nội vào, nghe thật thương cảm. Câu chuyện thế này: Thầy Nguyễn Xuân Khu, vốn là người từng du học Liên Xô, trở về làm giáo sư ngôn ngữ học, ở một trường đại học danh tiếng Hà Nội.

Sau năm 1975, chưa lâu, có lần thầy Khu được thỉnh giảng chuyên đề “phương pháp dạy ngôn ngữ” ở khoa ngữ văn Đại học Cần Thơ. Thầy được bố trí ở trong một căn phòng, khu tập thể giảng viên. Suốt hơn một tháng trời, ngoài giờ giảng bài trên lớp, thầy chỉ đóng cửa lại ngồi trong phòng, không đi đâu cả.

Nhiều hôm sinh viên đến mời thầy đi uống cà phê , giao lưu cho khuây khỏa, vì sợ thầy xa gia đình nên buồn. Nhưng thầy đều từ chối. Sinh viên nghĩ rằng, các thầy ngoài Bắc vào hay giữ thể diện, ngại tiếp xúc với sinh viên, nên mới như thế! Không ngờ, những ngày cuối, sắp kết thúc chuyên đề của thầy, các cô cậu sinh viên miền Nam mới hiểu được sự tình, khá bất ngờ.

Thì ra, thầy chỉ có một bộ quần áo mặc khi lên lớp, hoặc đi ra ngoài. Cho nên, hôm nào nghỉ ở nhà , thì cởi ra giặt, chờ nó khô, vì vậy không thể đi đâu được. Thầy nói ở ngoài đó (miền Bắc), giáo sư như thầy, được cấp phiếu mua năm mét vải, để mặc trong một năm. Cho nên, các thầy cô giáo ngoài miền Bắc mặc quần áo vá lên lớp, là chuyện bình thường! (Đợt này thầy không đem theo mấy bộ quần áo vá mà thầy thường mặc, vì sợ “mang tiếng”)

Thầy còn kể, khi biết thầy sắp đi giảng trong miền Nam, vợ thầy dặn, lúc về nhớ mua vài cân (kg) đường, vài ba hộp sữa cho con. Vì nghe nói, trong Nam giá đường sữa rẻ, và hiện bán tự do , không cần tem phiếu.

Một hôm thầy ghé chợ Cần Thơ, đảo qua các hàng bán đường sữa, và thực phẩm chế biến, xem thử. Thầy đã bị choáng, trước cảnh tượng buôn bán tấp nập, và “hoành tráng” ở đấy.
Chỉ mới nhìn hàng mẫu thôi , thầy Khu đã thấy ngây ngất! Cửa hàng mậu dịch quốc doanh của nhà nước ở ngoài Bắc, cũng chẳng được như thế.
Có đến hàng mấy chục loại đường khác nhau. Mỗi loại đựng trong một cái thau bự chảng, đổ vun đầy lên, thành hình ngọn núi, trên “đỉnh núi” cắm một bảng tên loại và giá cả, để khách hàng tiện lựa chọn. Sữa hộp cũng đủ các loại, được chồng lên thành những “tòa tháp”, giá cả rõ ràng, khách hàng tùy ý chọn mua. Lần đó thầy lúng túng chẳng biết mua gì.

Chuyện đi chợ mua quà bất thành ấy của thầy, không biết sao, đã lọt vào mắt đám sinh viên mấy lớp thầy đang dạy. Nên họ đã bảo nhau nhanh chóng tổ chức liên hoan trước thời hạn để tiễn thầy.

Hôm ấy, lớp trưởng và một số bạn đại diện, khệ nệ mang quà đến, chất đầy cả bàn viết trong phòng thầy. Mươi ký đường cát trắng, dăm ký đường thốt nốt (Một đặc sản của người Khmer Nam Bộ, lấy từ tinh chất của hoa cây thốt nốt); mươi hộp sữa; một giỏ trái măng cụt (loại trái cây đắt tiền ,chỉ có ở miền Nam), một túi ni lông đựng sáu xấp vải, đủ may ba bộ đồ tây; cùng với một số cà vạt, và dây nịt (thắt lưng) v.v..

Lớp trưởng và các thành viên khoanh tay, đứng phía bên này bàn, đối diện thầy, kính cẩn nói lời cảm ơn công lao giảng dạy của thầy trong thời gian qua. Rồi thuyết minh giới thiệu những món quà “của ít lòng nhiều”, mong được thầy nhận cho.

Thầy cũng đứng dậy đáp lễ, vẻ đầy xúc động. Có vài âm thanh nhỏ, đứt đoạn, từ trong cổ họng thầy thốt ra :
- “Tôi….tôi….tôi…”
Rồi không nghe thầy nói gì nữa ! Mắt thầy rơm rớm!

Có thể, đây là lần đầu tiên trong cuộc đời làm giáo chức của mình, thầy cảm nhận được lòng quý trọng, và sự quan tâm rất cụ thể. Cũng rất có thể, thầy bỗng nhớ đến những đứa học trò thân yêu của thầy ở ngoài Bắc, mà lòng thấy xót xa!
Chúng còn đói rách, thiếu thốn hơn thầy nhiều, nên dù muốn có chút quà để bày tỏ lòng thành kính đối với thầy, thì cũng không thể làm được! (Phú quý sinh lễ nghĩa mà. Nghèo khổ quá đành thất lễ thôi)

Câu chuyện về giáo sư Khu, làm tôi nhớ đến một người rất nổi tiếng, cũng gặp tình huống tương tự. Đó là tác giả bài quốc ca Việt Nam và nhiều nhạc phẩm trữ tình bất hủ khác.

Bạn tôi kể lại, về nhạc sĩ Văn Cao, lần đó , thế này: Vì nổi tiếng, cho nên sau năm 1975, có lần ông được người phụ trách câu lạc bộ một nhà văn hóa ở Sài Gòn, mời đến giao lưu, nhân dịp ông vào thăm người bà con trong Nam. Cụ thế là ông đến an tọa trên sân khấu, để người ta mua vé, vào chiêm ngưỡng cái dung nhan vô cùng khắc khổ của ông. Thỉnh thoảng, ông cũng phải trả lời những câu hỏi của những người tò mò. Đại loại như:
- “Thưa bác, bác đã sáng tác bài ‘Tiến Quân Ca’ lúc bác bao nhiêu tuổi ạ ?” Hoặc:
-” Trong bài hát có câu ‘ Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước’. Máu đó, là bác muốn nói đến máu của ai ạ ? v.v..

Nghe nói , chẳng những Văn Cao có công lớn , làm ra bài quốc ca, mà ông còn trực tiếp cầm súng lục đi ám sát, thủ tiêu kẻ bị nghi là Việt gian phản bội, trong đội ngũ cách mạng, theo lệnh của lãnh đạo cộng sản nữa. Tuy có công lớn; nhưng rồi ông bị xem như đã từng dính líu đến vụ án “Nhân văn-Giai phẩm chống đảng”, nên dường như không bao giờ được tiếp xúc với công chúng.

Lần này, cuối buổi giao lưu, cả hội trường đứng dậy, vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Các cô gái mặc áo dài, ôm hoa đến tặng. Người tổ chức nói lời cảm ơn chân thành, và gửi ông chiếc phong bì đựng tiền thù lao. Ông đã sững người ra, và ... khóc! Có lẽ đây là lần đầu tiên, người nhạc sĩ tài ba, đã cảm nhận được sự tôn vinh thật lòng, và cụ thể của đám đông công chúng !

Thì ra, “tàn dư tư bản” còn hàm nghĩa tốt, chứ không phải chỉ là nghĩa xấu, như tôi từng được học trong các giờ chính trị !

P/S.
- Ảnh tác giả (cũ) , phút giây thư giãn và suy ngẫm chuyện đời.
- Anh: NS Văn Cao
-”Móc ngoặc” : Cách giao dịch lén lút , vụng trộm, đi đêm với nhau của kẻ có quyền thời đó.
- “Phe phẩy”: buôn gian bán lậu, cách kiếm sống của đám người thất nghiệp ở thành thị ,rất đông đúc thời ấy.
- “Tàn dư tư bản “: những thứ xấu xa do xã hội tư bản để lại (cách nói của người cs cầm quyền).

Address

Fort Rucker, AL

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when VNAF & me posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share