Thông tin Công an xã Trí Phải

Thông tin Công an xã Trí Phải Công an xã Trí Phải (tỉnh Cà Mau) được hình thành trên cơ sở sáp nhập của 03 đơn vị: Công an xã Trí Phải (cũ), Công an xã Tân Phú và Công an xã Trí Lực.

Quyền tự do ngôn luận và trách nhiệm trong thời đại sốMới đây, lợi dụng sự kiện Hội nghị KOL toàn quốc lần thứ II (KOL S...
29/09/2026

Quyền tự do ngôn luận và trách nhiệm trong thời đại số

Mới đây, lợi dụng sự kiện Hội nghị KOL toàn quốc lần thứ II (KOL Summit 2026) được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên một số nền tảng mạng xã hội và trang thông tin tiếng Việt thiếu thiện chí ở nước ngoài xuất hiện nhiều bài viết xuyên tạc, vu khống chính quyền Việt Nam.

Đây vốn không phải chiêu trò mới, bởi mỗi khi đề cập tới vấn đề chuẩn mực trên không gian mạng, các thế lực thù địch, phần tử cực đoan lập tức gán ngay nhãn Nhà nước “kiểm soát”, “bịt miệng dân”, “siết vòng kim cô” với người dùng mạng xã hội nhằm công kích chế độ, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, chia rẽ người sử dụng mạng xã hội với chính quyền, âm mưu hình thành làn sóng phản kháng ngầm làm suy yếu chế độ.

Năm 2018, khi Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng nhằm ngăn chặn tội phạm mạng, bảo vệ an ninh quốc gia và dữ liệu người dùng, tổ chức khủng bố Việt tân, RFA Tiếng Việt cùng một số tổ chức chống phá ở hải ngoại lập tức rêu rao “luật bịt miệng dân”, cho rằng đạo luật hủy hoại quyền tự do ngôn luận.

Gần đây hơn, khi Nghị định số 147/2024/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng có hiệu lực cuối năm 2024, áp dụng biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế tài khoản ảo, tin giả, cũng là quy định được nhiều quốc gia áp dụng, tuy nhiên các đối tượng đã dùng hình ảnh “vòng kim cô” để chỉ trích văn bản này.

Từ thực tế cho thấy, mỗi khi Việt Nam ban hành chính sách quản lý không gian mạng, dù là luật, nghị định hay một bộ quy tắc tự nguyện, các đối tượng chống phá đều tái sử dụng công thức quen thuộc: gán nhãn, quy chụp, kêu gọi can thiệp từ bên ngoài, biến mỗi chính sách thành cái cớ cho luận điệu “Việt Nam không có tự do ngôn luận”.

Chiêu bài đó tiếp tục được sử dụng với KOL Summit 2026 diễn ra ngày 7/9 vừa qua. Sự kiện quy tụ hơn 1.000 đại biểu, do Liên minh Niềm tin số phối hợp Công ty cổ phần VCCorp tổ chức, dưới sự bảo trợ của Bộ Công an, có sự tham gia của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Hiệp hội An ninh mạng quốc gia.

Đây là diễn đàn thường niên, được khởi xướng từ tháng 8/2025, quy tụ người có ảnh hưởng (KOL), doanh nghiệp, nền tảng số, cơ quan báo chí cùng cơ quan quản lý nhà nước, tập trung vào những vấn đề thời sự của môi trường số: AI, thông tin sai lệch, trách nhiệm của người có ảnh hưởng, quyền tác giả và xây dựng niềm tin số, với thông điệp “Viral có tâm, ảnh hưởng có tầm”. Tại hội nghị, Liên minh Niềm tin số công bố Chương trình Tín nhiệm Người có ảnh hưởng.

Tuy nhiên, các đối tượng chống phá cố tình hướng lái dư luận hiểu rằng đây là sự kiện do Bộ Công an trực tiếp đứng ra tổ chức nhằm quản lý, giám sát KOL, từ đó vu cáo Nhà nước vi phạm tự do ngôn luận.

Từ thực tế cho thấy, mỗi khi Việt Nam ban hành chính sách quản lý không gian mạng, dù là luật, nghị định hay một bộ quy tắc tự nguyện, các đối tượng chống phá đều tái sử dụng công thức quen thuộc: gán nhãn, quy chụp, kêu gọi can thiệp từ bên ngoài, biến mỗi chính sách thành cái cớ cho luận điệu “Việt Nam không có tự do ngôn luận”.

Tiêu biểu, RFA đăng bài “Bộ Công an đội “vòng kim cô” sáng tạo nội dung lên các KOL”, xuyên tạc “ai không tuân thủ sẽ bị “niệm chú”; Luật Khoa tạp chí (trang mạng tự xưng là ấn phẩm báo chí độc lập, chuyên về pháp lý, chính trị, lịch sử liên quan Việt Nam) thì cho rằng các KOL “bị đưa vào lồng thể chế về mặt tổ chức”, nay “tiếp tục được yêu cầu phải kiểm duyệt các bình luận của người dùng”... Các bài viết có cùng nội dung quy chụp cơ quan quản lý đang tìm cách kiểm soát tiếng nói của người có ảnh hưởng trên không gian mạng.

Điều cả RFA lẫn Luật Khoa đều phớt lờ là cấu trúc của Bộ Tiêu chuẩn Hoạt động cho Người có ảnh hưởng và Nhà sáng tạo nội dung (phiên bản 1.0) mà họ đem ra chỉ trích là bộ quy tắc tự nguyện, áp dụng cho những cá nhân chủ động cam kết tham gia hoặc đăng ký chứng nhận. Nói cách khác, một KOL hoàn toàn có quyền không tham gia Liên minh Niềm tin số, không nhận nhãn “Tín nhiệm số”. Ranh giới phân biệt một chương trình tín nhiệm tự nguyện với một mệnh lệnh hành chính cưỡng chế là rõ ràng, song một số tổ chức, cá nhân cố tình “đánh lận con đen” nhằm gây hoang mang dư luận.

Tạp chí Luật Khoa còn bám vào Khoản 8.4, quy định người có ảnh hưởng phải chủ động báo cáo nền tảng, ẩn hoặc xóa bình luận nếu kênh của mình bị bên thứ ba lợi dụng để quy chụp như một biểu hiện “tiêu cực về chính trị, tôn giáo, dân tộc”. Đây là suy diễn vô căn cứ: nghĩa vụ này là điều kiện để giữ nhãn tự nguyện, không phải quy định pháp luật để xử phạt hành chính hay hình sự. Khoản 19.1 mà Luật Khoa trích dẫn cũng cho thấy hậu quả cao nhất chỉ là nhắc nhở, cảnh báo, yêu cầu gỡ nội dung, đình chỉ hoặc thu hồi chứng nhận, không can thiệp quyền tự do ngôn luận hay quyền hành nghề của bất kỳ ai.

Việc kiểm duyệt bình luận trên kênh cá nhân cũng không mới, vì mọi nền tảng mạng xã hội lớn từ lâu đã yêu cầu chủ kênh gỡ bỏ bình luận vi phạm quy tắc cộng đồng. Cần nói rõ, đây mới là phiên bản 1.0 của một bộ tiêu chuẩn lần đầu được xây dựng cho một lĩnh vực còn rất mới; những điểm chưa rõ ràng là phần cần góp ý, hoàn thiện qua thực tiễn, chứ không phải bằng chứng của một “âm mưu kiểm duyệt”.

Trên thực tế, đặt chuẩn mực nghề nghiệp cho người có ảnh hưởng là điều nhiều quốc gia đang triển khai. Tại Hàn Quốc, Ủy ban Tiêu chuẩn truyền thông (KCSC) có quyền yêu cầu gỡ nội dung vi phạm hoặc xử phạt hành chính tới hàng trăm triệu won. Tại Singapore, Cơ quan Phát triển truyền thông Infocomm (IMDA) ban hành Bộ Quy tắc ứng xử cho người sáng tạo nội dung, yêu cầu kiểm chứng nguồn tin trước khi đăng, tránh lan truyền nội dung kích động. Nhiều nước châu Âu cũng buộc người có ảnh hưởng công khai nội dung được tài trợ, chịu trách nhiệm pháp lý nếu chia sẻ thông tin sai lệch.

Tại Việt Nam, Luật Quảng cáo sửa đổi, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định người có ảnh hưởng phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cung cấp tài liệu khi cơ quan chức năng yêu cầu, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung quảng cáo do mình chuyển tải. Bộ Tiêu chuẩn của Liên minh Niềm tin số vì thế đang đi cùng chiều với xu hướng quản trị người có ảnh hưởng trên thế giới: sức ảnh hưởng càng lớn, trách nhiệm càng phải lớn theo.

Trong một xã hội pháp quyền, quyền tự do ngôn luận luôn đi cùng trách nhiệm: mỗi người có quyền bày tỏ chính kiến, phản biện chính sách, nêu góc nhìn đa chiều, nhưng quyền đó không bao gồm quyền đưa thông tin sai sự thật, vu khống hay gây hậu quả mà không phải chịu trách nhiệm.

Cũng cần phân biệt giữa quản lý và cấm đoán. Trong một xã hội pháp quyền, quyền tự do ngôn luận luôn đi cùng trách nhiệm: mỗi người có quyền bày tỏ chính kiến, phản biện chính sách, nêu góc nhìn đa chiều, nhưng quyền đó không bao gồm quyền đưa thông tin sai sự thật, vu khống hay gây hậu quả mà không phải chịu trách nhiệm.

Tự do cho phép con người lên tiếng; trách nhiệm buộc mỗi người trả giá cho những gì mình phát ngôn. Hai nguyên tắc này không đối lập, mà song hành. Vì vậy, việc đặt ra chuẩn mực cho hoạt động của KOL không thể bị đánh đồng với “đội vòng kim cô” hay “niệm chú” như cách RFA và Luật Khoa tuyên truyền.

Thực tế đã cho thấy, mục tiêu thật sự đằng sau những luận điệu xuyên tạc nêu trên của các đối tượng cực đoan, thù địch chưa bao giờ quan tâm tới chính sách, mà là gieo hoài nghi, chia rẽ niềm tin giữa người dùng mạng xã hội với cơ quan quản lý, từng bước hình thành thái độ đề phòng, phản kháng trong một bộ phận công chúng. Nhận diện đúng động cơ xấu xa ấy cũng là cách để mỗi người tự trang bị cho mình “vắc-xin” trước thông tin xuyên tạc, đồng thời không tạo cơ hội cho các đối tượng xấu dẫn dắt, lợi dụng.

SƠN THÀNH

Báo Nhân dân

Quang cảnh Hội nghị KOL toàn quốc lần thứ II. (Ảnh: Ban tổ chức)




28/09/2026
28/09/2026

AN NINH TRUYỀN THANH SỐ KỲ 39/2026

🇻🇳🇻🇳🇻🇳Mời các đồng chí, quý vị và các bạn theo dõi chương trình “An ninh truyền thanh số” của Phòng Công tác chính trị, Công an tỉnh Cà Mau.

🇻🇳🇻🇳🇻🇳Chương trình phát thanh kỳ này gồm có những nội dung sau:
📣- Nhiều góp ý sát thực tiễn vào Dự thảo Bộ Luật hình sự sửa đổi
📣 - Cảnh báo thủ đoạn lợi dụng công nghệ AI để lừa đảo, vi phạm pháp luật
📣- Chung sức giúp đỡ Nhân dân khắc phục ảnh hưởng do mưa giông
❤️❤️Bây giờ là nội dung chi tiết!

BỐN KIÊN ĐỊNH - GIỮ VỮNG PHƯƠNG HƯỚNG, MỞ ĐƯỜNG CHO ĐỔI MỚI VÀ VƯƠN MÌNH Một quốc gia muốn tiến xa không chỉ cần biết rõ...
28/09/2026

BỐN KIÊN ĐỊNH - GIỮ VỮNG PHƯƠNG HƯỚNG, MỞ ĐƯỜNG CHO ĐỔI MỚI VÀ VƯƠN MÌNH

Một quốc gia muốn tiến xa không chỉ cần biết rõ điểm đến, mà còn phải xác định chính xác những giá trị cốt lõi không được đánh mất trên hành trình ấy. Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên thiết yếu khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ rộng mở song hành cùng những thách thức chưa từng có.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng ta nêu rõ: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”.

BÀI 1: BỐN KIÊN ĐỊNH LÀ MỘT CHỈNH THỂ THỐNG NHẤT
“Bốn kiên định” được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng không nên nhìn nhận như bốn mệnh đề tách rời, càng không phải những nguyên tắc cứng nhắc. Đó là một chỉnh thể có mối quan hệ hữu cơ: Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng để giữ vững phương hướng; kiên định mục tiêu cách mạng để xác định đích đến; kiên định đổi mới nhằm tạo động lực phát triển; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để bảo đảm năng lực lãnh đạo và tổ chức thực thi. Quan điểm này đồng thời được đặt trong mối liên hệ mật thiết với tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển; lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Kiên định nền tảng không phải là đóng khung tư duy
Kiên định không đồng nghĩa với bất biến; đổi mới không đồng nghĩa với xa rời nền tảng. Trái lại, giữa kiên định và đổi mới tồn tại mối quan hệ biện chứng sâu sắc. Kiên định tạo ra định hướng để quá trình đổi mới không chệch đường; còn đổi mới giúp những giá trị được kiên định có khả năng thích ứng với thực tiễn, tiếp tục phát huy sức sống trong điều kiện mới. Đây cũng chính là một trong những vấn đề phương pháp luận quan trọng nhất khi nhận thức và vận dụng “Bốn kiên định” trong kỷ nguyên mới.
Điểm đầu tiên trong “Bốn kiên định” của Đại hội XIV thể hiện sự phát triển đáng chú ý về mặt tư duy: Không chỉ “kiên định” mà còn “vận dụng và phát triển sáng tạo” chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng lý luận về đường lối đổi mới. Cách đặt vấn đề này cho thấy một yêu cầu kép: Một mặt, nền tảng tư tưởng giữ vai trò định hướng phương pháp nhận thức và hành động, giúp xác định những nguyên tắc, mục tiêu căn bản cùng phương hướng phát triển không thể tùy tiện thay đổi. Mặt khác, nền tảng ấy chỉ thực sự phát huy sức sống khi được vận dụng phù hợp, bổ sung, phát triển từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bằng hiệu quả thực tế. Đây chính là ranh giới phân biệt giữa kiên định có nguyên tắc với bảo thủ, giáo điều.
Một chủ trương phù hợp trong điều kiện lịch sử này có thể cần được cụ thể hóa khác đi khi bối cảnh kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và quan hệ quốc tế biến chuyển. Một phương thức tổ chức từng hiệu quả có thể cần điều chỉnh khi xuất hiện các mô hình quản trị mới. Tương tự, một phương thức truyền thông từng thành công có thể không còn đáp ứng đủ yêu cầu khi môi trường thông tin đã chuyển dịch mạnh sang nền tảng số.
Tuy nhiên, thay đổi phương thức không đồng nghĩa với việc thay đổi nền tảng.
Chính vì vậy, nếu chỉ nhấn mạnh “kiên định” mà coi nhẹ yêu cầu “vận dụng và phát triển sáng tạo”, sẽ rất dễ biến một nguyên tắc mang tính động thành một tư duy tĩnh. Ngược lại, nếu chỉ tập trung vào “đổi mới” mà thiếu đi hệ quy chiếu nền tảng, các nỗ lực đổi mới có nguy cơ trở thành những thay đổi rời rạc, mất phương hướng.
Nghị quyết Đại hội XIV lồng ghép “lý luận về đường lối đổi mới” vào chính cấu trúc nhận thức đó. Những tổng kết từ 40 năm đổi mới được nhìn nhận như quá trình phát triển nhận thức lý luận, gắn kết lý luận với thực tiễn, kế thừa với bổ sung, ổn định với đổi mới. Do đó, nhận thức sâu sắc hơn về kiên định chính là: Kiên định các giá trị, mục tiêu có tính nguyên tắc, đồng thời không ngừng đổi mới phương pháp để hiện thực hóa chúng trong điều kiện mới.
Đó không phải là sự lựa chọn giữa “giữ” hay “đổi”, mà là khả năng kết hợp hài hòa giữa việc bảo tồn cái cốt lõi và kiến tạo cái mới.
Kiên định mục tiêu để đổi mới không mất phương hướng
Nếu nền tảng tư tưởng giải quyết câu hỏi “dựa vào đâu để nhận thức và hành động”, thì kiên định mục tiêu trả lời cho câu hỏi “đi về đâu”. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt được Đại hội XIV tiếp tục khẳng định. Cùng với đó, Nghị quyết đã xác định các mục tiêu phát triển cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, gắn kết nhiệm vụ chiến lược của đất nước với hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời đại ngày nay, độc lập dân tộc không chỉ là bảo vệ chủ quyền địa giới, mà còn là nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tự chủ công nghệ và phát huy sức mạnh nội sinh quốc gia.
Trong bối cảnh mới, kiên định mục tiêu không dừng lại ở việc nhắc lại các mệnh đề. Yêu cầu quan trọng hơn là phải chuyển hóa mục tiêu thành những tiêu chí phát triển cụ thể. Một nền kinh tế có năng lực tự chủ cao phải được xây dựng trên nền tảng năng suất, khoa học - công nghệ, sức mạnh doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực.
Một xã hội phát triển bền vững phải được đo lường bằng chất lượng cuộc sống, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, môi trường sống và cơ hội phát triển của người dân. Một quốc gia muốn nâng cao năng lực tự chủ chiến lược phải đồng thời củng cố sức mạnh nội sinh về thể chế, công nghệ, nhân lực và năng lực cạnh tranh.
Theo đó, mục tiêu không phải là một điểm đến mang tính khẩu hiệu, mà phải trở thành chuẩn mực để lựa chọn chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả. Đây cũng là điểm giao giữa “Bốn kiên định” và yêu cầu phát triển thực tiễn. Kiên định mục tiêu không có nghĩa giữ nguyên mọi cách làm cũ. Trái lại, chính mục tiêu dài hạn đòi hỏi phải liên tục tìm kiếm những phương thức mới, hiệu quả hơn để từng bước tiến gần hơn đến đích đến đó.
Kiên định đổi mới - Yêu cầu tất yếu của phát triển
Trong bốn nội dung, điểm thứ ba thể hiện rõ nét nhất tính biện chứng: “Kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới”. Tại đây xuất hiện một sự kết hợp tưởng chừng đối lập: Đã “kiên định” tại sao lại “đổi mới”? Thực chất, đây là hai mặt của một yêu cầu thống nhất. Khi thực tiễn liên tục vận động, một đường lối phát triển muốn giữ nguyên giá trị buộc phải có năng lực tự điều chỉnh, tự hoàn thiện. Đổi mới không phải là sự phủ định sạch trơn quá khứ, mà là quá trình kế thừa, bổ sung và phát triển dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn cùng nghiên cứu lý luận.
Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xử lý tốt các mối quan hệ giữa kế thừa, bổ sung và phát triển; giữa kiên định và đổi mới; giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện. Đây chính là luận đề trung tâm: Kiên định là điều kiện để đổi mới đúng hướng; đổi mới là phương thức để sự kiên định không rơi vào trì trệ.
Trong thực tiễn, tinh thần này được thể hiện rõ qua yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển dịch năng lượng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là các động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời nhấn mạnh việc phát triển các lực lượng sản xuất mới. Như vậy, đổi mới không phải một mảng việc tách rời, mà nằm ngay trong logic nội tại của “Bốn kiên định”.
Kiên định nguyên tắc để năng động mà không tùy tiện
Nếu nền tảng định hình phương hướng, mục tiêu xác định đích đến, đổi mới tạo ra động lực, thì các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng đóng vai trò là cơ chế bảo đảm cho toàn bộ quá trình diễn ra thống nhất, kỷ luật và hiệu quả. Nội dung này mang ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đổi mới quản trị, khuyến khích sự sáng tạo và tăng tính chủ động của các cấp, các ngành. Việc kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ không hề đối lập hay cản trở tinh thần đổi mới, mà chính là bệ đỡ vững chắc để bảo vệ cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Đổi mới càng mạnh mẽ càng đòi hỏi nguyên tắc phải rõ ràng. Phân quyền không đồng nghĩa với buông lỏng trách nhiệm; khuyến khích sáng tạo không đi cùng với sự tùy tiện; tăng quyền chủ động không làm giảm yêu cầu kiểm tra, giám sát; dám nghĩ, dám làm phải luôn gắn liền với trách nhiệm trước tổ chức, pháp luật và lợi ích chung.
Đại hội XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Do đó, “kiên định các nguyên tắc” không đơn thuần là việc giữ nguyên một mô hình tổ chức, mà cốt lõi là bảo đảm quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo và quản trị luôn vận hành trong khuôn khổ nguyên tắc, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Tràm Xanh (QR)

28/09/2026

Một Việt Nam chủ động, xây dựng và có trách nhiệm

Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hiệp hội Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ (FPA) nhấn mạnh “góc nhìn của Việt Nam về ba vấn đề”, không chỉ đề cập quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, mà còn cho thấy một thông điệp rộng hơn về “trách nhiệm” trong bối cảnh mới.
Đó là tâm thế của một Việt Nam không chỉ thích ứng với thay đổi, mà chủ động tham gia tìm kiếm giải pháp và góp phần hình thành những nguyên tắc, chuẩn mực mới. Cạnh tranh địa chiến lược, xung đột, biến đổi khí hậu, an ninh mạng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đang tạo ra những vấn đề vượt khỏi biên giới quốc gia. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không chỉ là mỗi nước được gì, mất gì, mà còn là có thể đóng góp gì cho những lợi ích chung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh các nước lớn cần có đóng góp tương xứng với ảnh hưởng của mình; các nước vừa và nhỏ cũng không thể đứng ngoài, mà cần chủ động đề xuất sáng kiến và tham gia giải quyết các vấn đề chung. Thông điệp này cho thấy một cách nhìn nhất quán về vai trò quốc tế của Việt Nam: là một nước đang phát triển, Việt Nam không tự giới hạn mình trong phạm vi lợi ích quốc gia trước mắt, mà chủ động tham gia vào việc giải quyết những vấn đề chung.
Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ và tạo dựng môi trường hòa bình cho phát triển vẫn là ưu tiên hàng đầu. Song những lợi ích ấy ngày càng gắn với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, thế giới. Quan điểm đó thể hiện trong chủ trương củng cố hệ thống quốc tế lấy Liên hợp quốc làm trung tâm, đề cao bình đẳng chủ quyền, tôn trọng độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Đặc biệt, khi đề cập AI, an ninh mạng và sử dụng không gian vũ trụ vào mục đích hòa bình, một câu hỏi có ý nghĩa ngày càng lớn được đặt ra: công nghệ phát triển để phục vụ ai và được quản trị như thế nào? Quan điểm được nêu rất rõ: công nghệ phải phục vụ con người, con người phải kiểm soát công nghệ và các quốc gia đều cần có cơ hội tiếp cận, cùng hưởng lợi. Đó là sự chuyển dịch từ tâm thế chờ đợi để thích ứng sang chủ động tham gia định hình những chuẩn mực của thế giới mới.
Lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là một hành trình đặc biệt: từ hợp tác trong cuộc chiến chống phát xít, trải qua mất mát, thiếu niềm tin, đến bình thường hóa và trở thành Đối tác Chiến lược toàn diện. Đó là một hành trình kiên trì gây dựng lòng tin. Hợp tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh, khắc phục hậu quả bom mìn, xử lý dioxin, hỗ trợ người khuyết tật và tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ Việt Nam đã trở thành những nền tảng quan trọng của quá trình hàn gắn. Những cựu binh Hoa Kỳ như John McCain, John Kerry, Bobby Muller cùng nhiều người khác cũng đóng vai trò tích cực trong tiến trình bình thường hóa và vun đắp quan hệ hai nước.
Chính tinh thần trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau đã góp phần giúp hai bên vượt qua những khác biệt sâu sắc. Hành trình ấy cho thấy lòng tin không thể hình thành bằng tuyên bố, mà phải được tích lũy qua thời gian, sự tôn trọng và những hành động cụ thể. Quá trình hàn gắn Việt Nam - Hoa Kỳ như một minh chứng rằng những khác biệt tưởng như rất sâu sắc vẫn có thể được hóa giải khi các bên lựa chọn đối thoại, hợp tác và hướng tới tương lai.
Để đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tiến xa hơn, cần củng cố nền tảng chính trị, làm sâu sắc hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư, thúc đẩy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tiếp tục hàn gắn hậu quả chiến tranh và nâng tầm phối hợp tại khu vực, trên thế giới. Trong đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mở ra không gian hợp tác mới.
Đào tạo kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI; kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; nâng cao năng lực để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghệ sẽ giúp quan hệ hai nước tạo ra giá trị vượt lên trên thương mại và đầu tư truyền thống. Mục tiêu không chỉ là tăng kim ngạch hay dòng vốn, mà còn là tạo thêm công nghệ, việc làm, tri thức và năng lực cạnh tranh cho cả hai nền kinh tế.
Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả bảo hộ sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn dữ liệu, an ninh mạng và tính nhất quán trong thực thi chính sách.
Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện chỉ có chiều sâu khi các khuôn khổ chính trị được chuyển hóa thành lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp và người dân hai nước. Tâm thế chủ động “góc nhìn của Việt Nam về ba vấn đề” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu tại FPA - những biến động của thế giới, lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và tương lai hợp tác giữa hai nước - cùng quy tụ ở một điểm: trách nhiệm. Trách nhiệm trước những thay đổi của thời đại để không đứng ngoài các vấn đề chung. Trách nhiệm với lịch sử để xử lý quá khứ bằng sự chân thành và hành động cụ thể. Trách nhiệm với tương lai để biến lòng tin thành những giá trị mới.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho thấy một cách tiếp cận nhất quán: không quên quá khứ, không đứng ngoài hiện tại và không thụ động trước tương lai. Lòng tin phải tiếp tục được chuyển hóa thành những kết quả hợp tác cụ thể, để quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không chỉ tốt đẹp trên bình diện chính trị, mà còn mang lại những lợi ích thiết thực hơn cho người dân hai nước và đóng góp tích cực hơn cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực, thế giới.
Nam SơnVOV.VN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chính sách tại Hiệp hội Chính sách đối ngoại (Hoa Kỳ) ngày 23/9/2026. Ảnh: TTXVN









Address

Ấp 2, Xã Trí Phải
Cà Mau

Telephone

+842903862081

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thông tin Công an xã Trí Phải posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Thông tin Công an xã Trí Phải:

Shortcuts

Share