01/09/2025
Ngày xưa ven bờ bắc sông Tiền có một giồng cát cao ráo. Trưa nắng cát bỏng rộp chân, chiều xuống gió sông thổi mát rượi. Ghe chở lúa ghé lại nấu cơm rồi đi, quanh chỉ vài mái lá thưa thớt. Giồng ấy chưa có tên, người ta gọi giản đơn là bờ cao.
Một buổi chiều cuối thế kỷ mười tám, đoàn thuyền quân đồn điền của Cai cơ Ngô Tấn Lễ thả neo nơi khúc sông lặng. Ông xuất thân Bình Định, theo tướng Võ Tánh, quen nhìn đất bằng con mắt của người vừa cầm gươm vừa cầm cày. Đứng trên đỉnh giồng, ông quan sát dòng chảy, con rạch, bãi bồi rồi nói với thuộc hạ rằng ở đây hội đủ điều kiện để dựng xóm. Giồng cao làm xương sống, rạch nhỏ dẫn nước làm mạch máu, bờ bao vòng cung giữ ruộng khỏi lũ lớn.
Những ngày đầu tạm bợ nhưng rộn ràng. Binh lính chặt cây, trai tráng xúc đất đắp bờ, người già trồng dừa, phụ nữ buộc chùm lúa giống vào cọc phơi nắng nhẹ. Mùa nước nổi đến thử sức cộng đồng mới. Nước bạc dâng lên bốn bề, nghe tiếng sóng vỗ chân đê, nhưng mặt giồng vẫn khô. Sau mưa lúa đứng thẳng, đòng trổ xanh mướt. Trẻ con chân trần chạy trên bờ bao, để lại những dấu chân bé nhỏ trong bùn mịn.
Khi lúa gặt tốt, người mua kẻ bán tìm tới. Một dãy chòi lợp lá mọc sát mé sông làm nơi tụ họp. Thuyền từ Gia Định đem muối và vải vóc, thuyền từ trong đồng mang lúa mới và cá khô. Tiếng rao chợ hòa tiếng chèo nước, khói bếp trưa quấn quanh lối đi. Bà con gọi nơi ấy là xứ của Cai Lễ, nhắc vị quan chỉ huy vừa lo an ninh vừa lo mùa màng. Trong lời nói thường ngày, tiếng Lễ dần uốn thành Lậy theo giọng miền Tây, cái tên giòn nhẹ như tiếng nước chạm mạn thuyền.
Thời gian nối tiếp thời gian. Triều Nguyễn lập tổng Kiến Lợi rồi huyện Kiến Đăng, lỵ sở đặt ngay vùng chợ. Người Pháp sau này đến, mở sổ sách và lấy luôn tên chợ để đặt cho hạt thanh tra rồi quận. Tên Cai Lậy từ một góc giồng đi thẳng vào bản đồ, đi vào giấy tờ, đi vào trí nhớ người qua chợ.
Tên gọi ấy không chỉ là định danh địa lý mà còn là cách cộng đồng lưu dấu người có công. Cai là cấp bậc của một người lính thời mở cõi, Lễ là tên của ông. Ghép lại thành một địa danh nhắc nhớ tinh thần khai khẩn, nhắc cả mối quan hệ bền chặt giữa binh và dân. Đình Hội Sơn vẫn còn, mỗi mùa Kỳ Yên hương khói dâng lên, hậu bối đọc văn tế tri ân tiền hiền. Trong tiếng mõ và câu hò, câu chuyện về ông Cai Lễ lại được kể cho lớp trẻ.
Bước nhanh tới hiện tại. Trên nền giồng Hữu Hòa là những con phố thẳng tắp, quán xá sáng đèn tối muộn. Xe container chở sầu riêng chôm chôm chạy qua, thay cho ghe lúa ngày xưa. Thị xã mang dáng giồng và sóng nước, như một lời nhắc dịu dàng về việc đất đã chọn người và người đã chọn đất. Một buổi chiều mát, cậu bé đứng trước cổng đình hỏi cha vì sao gọi là Cai Lậy. Người cha chỉ tay về phía bờ cao và kể rằng ở đó ngày trước có một ông Cai cơ mang tên Lễ, đến cùng dân đắp bờ đào mương, dựng chợ, từ đó mà thành tên.
Nếu một hôm bạn ghé nơi này, hãy bắt đầu từ đình Hội Sơn, nghe tiếng gió lùa qua mái ngói và mùi khói nhang thoảng nhẹ. Bước ra con đường chạy dọc sống lưng giồng, nhìn xuống ruộng trũng hai bên để cảm nhận chênh cao còn thấy bằng mắt. Dừng lại ở khu chợ cũ, thử tưởng tượng tiếng rao trưa và những tấm vải trắng phấp phới trên mũi thuyền. Tên Cai Lậy sẽ bỗng hiện ra không chỉ như chữ trên biển chỉ đường mà như câu chuyện liền mạch giữa sông nước, con người và khát vọng mở đất.
Câu chuyện bắt đầu từ một giồng cát vô danh và một người lính biết nhìn đất. Đến hôm nay, nó vẫn tiếp tục mỗi khi ai đó cất tiếng gọi hai chữ Cai Lậy.