22/09/2026
YOGA SUTRA CỦA PATANJALI - TOÀN BỘ 196 CÂU KINH
CHƯƠNG 1: SAMADHI PADA (CHƯƠNG VỀ ĐỊNH TÂM - 51 CÂU)
1.1: Atha yoga-anushasanam.
(Bây giờ, sự hướng dẫn về Yoga xin được bắt đầu.)
1.2: Yogash chitta-vritti-nirodhah.
(Yoga là sự lắng dịu những biến động của tâm trí.)
1.3: Tada drashtuh svarupe 'vasthanam.
(Khi đó, người quan sát an trú trong bản chất đích thực của chính mình.)
1.4: Vritti-sarupyam itratra.
(Ở những thời điểm khác, người quan sát đồng hóa mình với những biến động của tâm trí.)
1.5: Vrittayah panca-taytayah klishta-aklishtah.
(Các biến động của tâm trí có năm loại, mang tính chất gây phiền não [klishta] hoặc không gây phiền não [aklishta].)
1.6: Pramana-viparyaya-vikalpa-nidra-smritayah.
(Năm loại đó là: Nhận thức đúng đắn [Pramana], Nhận thức sai lầm [Viparyaya], Tưởng tượng [Vikalpa], Giấc ngủ sâu [Nidra], và Ký ức [Smriti].)
1.7: Pratyaksha-anumana-agamah pramanani.
(Nhận thức đúng đắn xuất phát từ tri giác trực tiếp [Pratyaksha], suy luận [Anumana], và lời chứng thực đáng tin cậy [Agama].)
1.8: Viparyayo mithya-jnanam atad-rupa-pratishtham.
(Nhận thức sai lầm là tri giác sai lệch, không phản ánh đúng bản chất thực của sự vật.)
1.9: Shabda-jnananupati vastu-shunyo vikalpah.
(Tưởng tượng là sự hình thành khái niệm dựa trên ngôn từ nhưng không có đối tượng thực tế tương ứng.)
1.10: Abhava-pratyayalambana vrittir nidra.
(Giấc ngủ sâu là biến động tâm trí dựa trên sự vắng mặt của các nội dung thức tỉnh.)
1.11: Anubhuta-vishayasampramoshah smritih.
(Ký ức là sự không để cho các đối tượng từng trải nghiệm bị phai mờ.)
1.12: Abhyasa-vairagyabhyam tat-nirodhah.
(Sự lắng dịu các biến động tâm trí ấy đạt được nhờ vào Thực hành tinh tấn [Abhyasa] và Xả ly [Vairagya].)
1.13: Tatra sthitau yatno 'bhyasah.
(Trong đó, Abhyasa là nỗ lực vững vàng để duy trì sự ổn định của tâm trí.)
1.14: Sa tu dirgha-kala-nairantarya-satkara-sevito dridha-bhumih.
(Sự thực hành đó trở nên vững chắc khi được duy trì lâu dài, không gián đoạn và với thái độ tôn kính, chân thành.)
1.15: Drishta-shravanavishaya-vitrishnah vashikara-sanjna vairagyam.
(Vairagya [Xả ly] là trạng thái làm chủ tâm trí, không còn bị cuốn hút hay thèm muốn bởi các dục vọng nhìn thấy hay nghe thấy.)
1.16: Tat param purusha-khyater guna-vaitrishnyam.
(Sự xả ly cao tột là khi không còn vướng mắc ngay cả với các phẩm tính tự nhiên [Gunas], đạt được nhờ sự thấu triệt Chân ngã [Purusha].)
1.17: Vitarka-vichara-ananda-asmita-rupa-anugamat samprajnyatah.
(Samprajnata Samadhi [Định có ý thức] đạt được thông qua sự đi kèm của: Tầm [Vitarka], Tứ [Vichara], Hỷ lạc [Ananda], và Tự ngã thuần khiết [Asmita].)
1.18: Virama-pratyaya-abhyasa-purvaha samskara-sesho 'nyah.
(Trạng thái định thứ hai [Asamprajnata Samadhi] xuất hiện sau nỗ lực buông bỏ mọi suy nghĩ, chỉ còn lại các tiềm năng ẩn sâu [Samskara] trong tâm thức.)
1.19: Bhava-pratyeyo videha-prakriti-layanam.
(Trạng thái tái sinh vào cõi vô sắc hoặc cõi tự nhiên là do kết quả của những dạng thức định chưa trọn vẹn.)
1.20: Shraddha-virya-smriti-samadhi-prajna-purvaka itaresam.
(Đối với những người khác, con đường đạt đến Samadhi đi qua các bước: Lòng tin [Shraddha], Năng lượng [Virya], Chánh niệm [Smriti], Định tâm [Samadhi], và Trí tuệ [Prajna].)
1.21: Tivra-samveganam asannah.
(Mức độ thành tựu đến rất gần đối với những ai có ý chí mãnh liệt, tinh tấn tột cùng.)
1.22: Mridu-madhya-adhimatratvat tato 'pi visheshah.
(Sự khác biệt về thời gian đạt kết quả nhanh hay chậm tùy thuộc vào cường độ tu tập: nhẹ, trung bình hay mãnh liệt.)
1.23: Ishvara-pranidhanaad va.
(Hoặc sự định tâm cũng có thể đạt được thông qua sự sùng kính, phó thác toàn diện lên đấng Tối cao [Ishvara].)
1.24: Klesha-karma-vipakashayair aparamrishtah purusha-vishesha ishvarah.
(Ishvara là một dạng thức đặc biệt của Chân ngã, hoàn toàn không bị vướng mắc bởi phiền não, nghiệp lực, quả báo hay các tiềm năng tâm lý.)
1.25: Tatra niratisayam sarvajna-bijam.
(Ở Ngài, hạt giống của sự toàn trí đạt đến mức độ tuyệt đối, không gì vượt qua được.)
1.26: Sa purvesham api guruh kalenanavachchhedat.
(Ngài là bậc đạo sư của cả các bậc cổ đại, vì Ngài vượt lên trên giới hạn của thời gian.)
1.27: Tasya vachakah pranavah.
(Biểu âm biểu thị Ngài chính là tiếng OM [Pranava].)
1.28: Tajjapas tad-artha-bhavanam.
(Trì tụng âm OM đó đồng thời với việc chiêm nghiệm, thấu hiểu sâu sắc ý nghĩa của nó.)
1.29: Tatah pratyak-chetana-adhigamo 'py antaraya-abhavash ca.
(Từ đó, hành giả đạt được sự thức tỉnh hướng nội và tiêu trừ mọi chướng ngại trên con đường tu tập.)
1.30: Vyadhi-styana-samshaya-pramadalasya-avirati-bhrantidarsanalabdha-bhumikatv-anavasthitatvani chitta-vikshepas te 'ntarayah.
(Các chướng ngại làm xao lãng tâm trí [Antaraya] gồm 9 yếu tố: Bệnh tật, Trì trệ, Nghi ngờ, Lơ đễnh, Lười biếng, Thèm muốn giác quan, Hiểu lầm, Mất kiên nhẫn với các tầng định, và Sự bất ổn khi giữ vững định tâm.)
1.31: Duhkha-daurmanasya-angamajayatva-shvasaprashvasa vikshepa-sahabhuvah.
(Đau khổ, chán nản, sự run rẩy của cơ thể, cùng với hơi thở ra vào nặng nhọc là những triệu chứng đi kèm với sự xao lãng tâm trí.)
1.32: Tat-pratisedhartham eka-tattvabhyasah.
(Để khắc phục những chướng ngại ấy, nên thực hành tập trung tâm ý vào một nguyên lý duy nhất.)
1.33: Maitri-karuna-mudita-upekshanam sukha-duhkha-punya-apunya-vishayanam bhavanatash cittaprasadanam.
(Tâm trí sẽ trở nên thanh tịnh khi hành giả nuôi dưỡng lòng từ bi với người hạnh phúc, trắc ẩn với kẻ đau khổ, niềm vui trước người đức hạnh, và sự thản nhiên trước kẻ lỗi lầm.)
1.34: Prachhardana-vidharanabhyam va pranasya.
(Hoặc sự bình an đạt được thông qua việc chủ động thở ra thật mạnh và giữ lại hơi thở.)
1.35: Vishayavati va pravrittir utpanna manasah sthiti-nibandhini.
(Hoặc sự tập trung vào các đối tượng cảm giác vi tế xuất hiện giúp tâm trí đạt được sự ổn định.)
1.36: Vishoka va jyotishmati.
(Hoặc sự tập trung vào trạng thái quang minh, vượt trên mọi khổ đau.)
1.37: Vita-raga-vishayam va chittam.
(Hoặc sự tập trung vào tâm trí của các bậc cao tăng đã gột rửa sạch mọi tham ái.)
1.38: Swapna-nidra-jnanalambanam va.
(Hoặc sự tập trung vào tri thức thu nhận được từ trạng thái chiêm bao hoặc giấc ngủ sâu.)
1.39: Yatha-bhimata-dhyanad va.
(Hoặc bất kỳ đối tượng thiền định nào phù hợp và mang lại cảm hứng cao quý cho hành giả.)
1.40: Paramanu-parama-mahatvanto 'sya vashikarah.
(Tâm trí của người đã làm chủ được định lực có khả năng thấu suốt từ hạt vi trần nhỏ nhất cho đến vũ trụ vĩ đại nhất.)
1.41: Kshina-vriter abhijatasyaeva maner grahitr-grahana-grahyeshu tat-stha-tad-anjanata samapattih.
(Khi các biến động tâm trí đã lắng dịu, tâm trở nên trong sáng như viên ngọc thuần khiết, phản chiếu trọn vẹn bản chất của cả Người quan sát, Phương tiện quan sát và Đối tượng quan sát [Samapatti].)
1.42: Tatra shabdartha-jnana-vikalpaih sankirna savitarka samapattih.
(Savitarka Samapatti là trạng thái định mà ở đó tri giác còn lẫn lộn giữa âm thanh, ý niệm khái niệm và từ ngữ mô tả.)
1.43: Smriti-parishuddhau svarupa-shunya-ivaartha-matra-nirbhasa nirvitarka.
(Nirvitarka Samapatti đạt được khi ký ức được gột sạch, tâm vượt qua hình tướng ngôn từ, chỉ còn lại ánh sáng thuần túy của đối tượng.)
1.44: Etayaiva savichara nirvichara cha sukshma-vishaya vyakhyatah.
(Bằng cách thức tương tự, các trạng thái Savichara và Nirvichara đối với các đối tượng vi tế cũng được giải thích như vậy.)
1.45: Sukshma-vishayatvam chalinga-paryavasanam.
(Giới hạn cuối cùng của các đối tượng vi tế chính là Prakriti nguyên thủy.)
1.46: Ta eva sabeejah samadhih.
(Tất cả các trạng thái định kể trên vẫn còn chứa đựng "hạt giống" [Sabeeja Samadhi].)
1.47: Nirvichara-vaisharadye 'dhyatma-prasadah.
(Khi đạt đến sự trong sáng tuyệt đối trong trạng thái Nirvichara, tâm thức bên trong trở nên hoàn toàn thanh tịnh.)
1.48: Ritambhara tatra prajna.
(Trí tuệ phát sinh ở tầng này được gọi là Ritambhara - Trí tuệ của Sự thật tối thượng.)
1.49: Shruta-anumana-prajnabhyam anya-vishaya vishesharthatvat.
(Trí tuệ này vượt trội hơn hẳn tri thức thu được qua nghe hiểu thông thường hay suy luận logic, bởi vì nó thấu suốt bản chất đặc thù của vạn vật.)
1.50: Taj-jah samskaro 'nya-samskara-pratibandhi.
(Dấu ấn sinh ra từ trí tuệ chân thật này sẽ ngăn chặn và xóa bỏ mọi dấu ấn phiền não cũ khác trong tâm trí.)
1.51: Tasyapi nirodhe sarva-nirodhan nirbijo samadhih.
(Khi ngay cả dấu ấn cuối cùng này cũng được làm cho lắng dịu, thì mọi hoạt động của tâm thức hoàn toàn dừng lại, đạt đến trạng thái Nirbija Samadhi - Định không hạt giống, sự giải thoát tuyệt đối.)
CHƯƠNG 2: SADHANA PADA (CHƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH - 55 CÂU)
2.1: Tapah-swadhyayeshvara-pranidhanani kriya-yogah.
(Kriya Yoga bao gồm: Sự tôi luyện nội tâm [Tapas], Sự tự học/nghiên cứu kinh điển [Svadhyaya], và Sự phó thác toàn diện cho đấng Tối cao [Ishvara Pranidhana].)
2.2: Samadhi-bhavanarthah klesha-tanu-karanarthash ca.
(Mục đích của Kriya Yoga là thúc đẩy trạng thái Định tâm [Samadhi] và làm suy yếu các phiền não [Klesha].)
2.3: Avidya-asmita-raga-dvesha-abhiniveshah klesha.
(Năm loại phiền não là: Vô minh [Avidya], Sự chấp ngã [Asmita], Ham muốn/Tham ái [Raga], Sân hận/Ghét bỏ [Dvesha], và Nỗi sợ cái chết/Bám chấp vào sự sống [Abhinivesha].)
2.4: Avidya ksetram uttesham prasupta-tanu-vicchinna-udaranam.
(Vô minh là gốc rễ của những phiền não khác, dù chúng đang ở trạng thái ngủ ngầm [prasupta], suy yếu [tanu], bị kìm nén [vicchinna], hay bộc lộ mạnh mẽ [udara].)
2.5: Anitya-ashuci-duhkha-anatmasu nitya-shuchi-sukha-atma-khyatir avidya.
(Vô minh là sự lầm lẫn: coi cái vô thường là thường còn, cái bất tịnh là thanh tịnh, đau khổ là hạnh phúc, và cái không phải Chân ngã thành Chân ngã.)
2.6: Drig-darshana-shaktyor ekatmata iva asmita.
(Sự chấp ngã [Asmita] là trạng thái lầm tưởng rằng năng lực nhìn [Người quan sát - Purusha] và năng lực thấy [Phương tiện/Tâm trí] là một thể thống nhất.)
2.7: Sukha-anushayi ragah.
(Tham ái [Raga] là sự bám chấp đi theo sau cảm giác hạnh phúc, dễ chịu.)
2.8: Duhkha-anushayi dveshah.
(Sân hận [Dvesha] là sự bực dọc, chống đối đi theo sau cảm giác đau khổ.)
2.9: Swaraha-vishi-vidusho 'pi tatha rudho 'bhiniveshah.
(Nỗi sợ cái chết [Abhinivesha] là bản năng tự nhiên gắn chặt vào ngay cả những bậc trí thức uyên bác, ai cũng có nỗi sợ bị hủy diệt.)
2.10: Te pratiprasava-heyah suksmah.
(Những phiền não vi tế này có thể bị loại bỏ bằng cách đưa chúng trở lại nguồn cội nguyên thủy của chúng.)
2.11: Dhyana-heyas tadvrittayah.
(Những biến động bộc lộ của phiền não có thể được xóa bỏ thông qua phương pháp Thiền định [Dhyana].)
2.12: Klesha-mulah karmashayo drishta-adrishta-janma-vedaniyah.
(Gốc rễ của nghiệp lực [Karmashaya] bắt nguồn từ các phiền não, và nó sẽ trổ quả trong kiếp sống hiện tại hoặc các kiếp sống vị lai.)
2.13: Sati mule tad-vipako jatir ayur bhogah.
(Chừng nào gốc rễ phiền não còn tồn tại, quả báo của nó sẽ quyết định thân phận tái sinh [Jati], tuổi thọ [Ayur], và những trải nghiệm sướng khổ [Bhoga] của kiếp đó.)
2.14: Te hlada-paritapa-phalah punya-apunya-hetutvat.
(Những quả báo đó mang lại niềm vui hoặc nỗi khổ, tùy thuộc vào việc nhân tạo ra chúng là thiện [punya] hay bất thiện [apunya].)
2.15: Parinama-tapa-samskara-duhkhair guna-vritti-virodhach cha duhkham eva sarvam vivekinah.
(Đối với người có trí tuệ, mọi thứ đều là đau khổ vì những hệ lụy của nó: nỗi đau do biến đổi, nỗi đau do khát khao, và nỗi đau từ các dấu ấn tâm lý, cộng với sự xung đột giữa các phẩm tính tự nhiên [Gunas].)
2.16: Heyam duhkham anagatam.
(Nỗi đau khổ chưa tới là điều cần phải được ngăn ngừa và vượt qua.)
2.17: Drashtr-drisyayoh samyogo heya-hetuh.
(Nguyên nhân gốc rễ gây ra đau khổ là sự đồng hóa giữa Người quan sát [Purusha] và Đối tượng bị quan sát [Prakriti/Thế giới vật chất].)
2.18: Prakasha-kriya-sthiti-shilam bhutendriyatmakam bhogapavargartham drishyam.
(Thế giới hiện tượng [Drishyam] có bản chất gồm ba phẩm tính, bao gồm các nguyên tố vật chất và giác quan, với mục đích kép là cung cấp trải nghiệm và mang lại sự giải thoát.)
2.19: Vishesh-avvishesha-lingamatra-alingani gunaparvani.
(Các cấp độ biểu hiện của phẩm tính tự nhiên gồm bốn trạng thái: có đặc thù, không đặc thù, chỉ có tướng trạng, và không tướng trạng [alinga - prakriti nguyên thủy].)
2.20: Drashta drimatrah shuddho 'pi pratyayAnupashyah.
(Người quan sát [Purusha] là ý thức thuần khiết, tuy hoàn toàn trong sáng nhưng lại nhìn nhận mọi thứ thông qua lăng kính của tâm trí.)
2.21: Tad-artha eva drishyasya atma.
(Bản chất của thế giới hiện tượng tồn tại hoàn toàn vì mục đích của chính Người quan sát đó.)
2.22: Kritartham prati nashtam apy anashtam tad-anya-sadharanatvat.
(Đối với người đã đạt được mục đích giải thoát, thế giới hiện tượng coi như đã biến mất đối với họ, nhưng nó vẫn tồn tại đối với những người khác chưa giác ngộ.)
2.23: Swasvami-shaktyoh swarupo-paldhi-hetuh samyogah.
(Sự kết hợp giữa Người quan sát và Đối tượng là nguyên nhân giúp cho cả hai nhận ra bản chất thực sự của năng lực sở hữu và đối tượng sở hữu.)
2.24: Tasya hetur avidya.
(Nguyên nhân của sự kết hợp sai lầm đó chính là sự Vô minh [Avidya].)
2.25: Tad-abhavat samyogabhavo hanam, taddrik-shaktih kaivalyam.
(Khi vô minh chấm dứt, sự kết hợp lầm lẫn ấy cũng chấm dứt, đó là trạng thái Giải thoát [Hana]. Khi đó, Người quan sát an trú trong sự tự do tuyệt đối [Kaivalyam].)
2.26: Viveka-khyatir aviplava hanopayah.
(Phương tiện để đạt đến sự giải thoát là Trí tuệ phân biệt [Viveka-khyati] không bao giờ bị lung lay hay gián đoạn.)
2.27: Tasya saptadha pranta-bhumih prajna.
(Trí tuệ đạt được của hành giả trải qua bảy tầng bậc tiến hóa tiệm tiến hướng tới sự hoàn thiện.)
2.28: Yogang-anushtanad ashuddhi-kshaye jnana-diptir aviveka-khyateh.
(Thông qua việc thực hành các chi phần của Yoga, sự bất tịnh bị tiêu hủy, ánh sáng trí tuệ bừng sáng dẫn đến Trí tuệ phân biệt.)
2.29: Yama-niyama-asana-pranayama-pratyahara-dharana-dhyana-samadhayo 'shtavangani.
(Tám chi phần của Yoga bao gồm: Yama, Niyama, Asana, Pranayama, Pratyahara, Dharana, Dhyana, và Samadhi.)
2.30: Ahimsa-satya-asteya-brahmacharya-aparigraha yamah.
(Năm giới luật Yama là: Bất bạo động, Chân thật, Không trộm cắp, Tiết độ, và Không tham lam.)
2.31: Ete jati-desha-kala-samayanavachchhinnah sarvabhauma mahavratam.
(Những giới luật này cấu thành Đại thệ nguyện [Mahavrata], áp dụng phổ quát ở mọi nơi, mọi lúc.)
2.32: Shaucha-santosa-tapa-swadhyayeshvara-pranidhanani niyamah.
(Năm kỷ luật Niyama là: Thanh tịnh, Tri túc, Tôi luyện nội tâm, Tự học kinh điển, và Phó thác cho đấng Tối cao.)
2.33: Vitarka-badhane pratipaksha-bhavanam.
(Khi bị quấy nhiễu bởi ý nghĩ tiêu cực, hãy thực hành quán tưởng ngược lại [Pratipaksha-bhavana].)
2.34: Vitarka hinsadayah krita-kararita-anumodita lobha-krodha-moha-purvaka mridu-madhya-adhimatra duhkha-ajnana-ananta-phala iti pratipaksha-bhavanam.
(Các ý nghĩ tiêu cực như bạo lực,... dù tự mình làm, sai khiến người làm hay đồng thuận, xuất phát từ tham sân si, đều mang lại quả báo vô tận là đau khổ và vô minh, do đó cần quán tưởng ngược lại.)
2.35: Ahimsa-pratishthayam tatsannidhau vira-tyagah.
(Khi vững chãi trong giới Bất bạo động, mọi sự thù hận đều tự động tiêu tan trong sự hiện diện của hành giả.)
2.36: Satya-pratishthayam kriya-phalashrayatvam.
(Khi vững chãi trong tính Chân thật, mọi lời nói và hành động đều đạt được kết quả xác thực.)
2.37: Asteya-pratishthayam sarva-ratn-opasthanam.
(Khi vững chãi trong giới Không trộm cắp, mọi báu vật đều tựu về quanh hành giả.)
2.38: Brahmacharya-pratishthayam virya-labhah.
(Khi vững chãi trong sự Tiết độ, hành giả đạt được nguồn năng lượng sinh lực mạnh mẽ.)
2.39: Aparigraha-sthairye janma-kathamta-sambodhah.
(Khi vững chãi trong giới Không tham lam, hành giả thấu suốt được bí ẩn về bản chất sự sống và các kiếp luân hồi.)
2.40: Shauchat swanga-jugupsa parair asamsargah.
(Từ sự Thanh tịnh, hành giả phát sinh sự nhàm chán đối với thân xác hữu hạn và không còn vướng mắc giao thiệp lỏng lẻo.)
2.41: Sattva-shuddhi-saumanasya-ekagrya-jendriya-jayatma-darshana-yogyatvani cha.
(Từ thanh tịnh nội tâm mang lại sự trong sáng tâm thức, sự hoan hỉ, định tâm cao độ và năng lực làm chủ giác quan.)
2.42: Samtosad anuttamah sukha-labhah.
(Từ tính Tri túc, hành giả đạt được niềm hạnh phúc tối thượng không gì sánh bằng.)
2.43: Kayendriya-siddhir ashuddhi-kshayat tapasah.
(Từ sự Tôi luyện nội tâm [Tapas], cấu uế bị tiêu hủy, mang lại sự thành tựu cho cơ thể và các giác quan.)
2.44: Svadhyayad ishtadevata-samprayogah.
(Từ sự Tự học kinh điển, hành giả đạt được sự kết nối và giao cảm với các bậc thầy tâm linh hoặc đấng thiêng liêng.)
2.45: Samadhi-siddhir ishvara-pranidhanat.
(Sự thành tựu trạng thái Định tâm đạt được thông qua sự phó thác toàn diện cho đấng Tối cao.)
2.46: Sthira-sukham asanam.
(Tư thế Yoga [Asana] phải là trạng thái vững chãi và thoải mái.)
2.47: Prayatna-shaithilyananta-samapattibhyam.
(Tư thế được hoàn thiện thông qua việc buông bỏ nỗ lực gượng gạo và sự thiền định hợp nhất vào vô cực.)
2.48: Tato dvandvanabhighatah.
(Từ đó, hành giả không còn bị quấy rầy bởi các cặp đối lập như nóng-lạnh, sướng-khổ.)
2.49: Tasmin sati shvasa-prashvasayor gati-vichchhedah pranayamah.
(Khi đã đạt Asana, bước tiếp theo là Pranayama: sự kiểm soát dòng chuyển động hít vào và thở ra.)
2.50: Bahyabhyantara-stambha-vrittir desha-kala-sankhyabhih paridrishto dirgha-sukshmah.
(Pranayama có ba dạng biến động (thở ra, hít vào, giữ lại), được đo lường bằng không gian, thời gian và số lượng nhịp.)
2.51: Bahyabhyantara-vishayakshepi caturthah.
(Dạng thứ tư của Pranayama vượt qua cả phạm vi hít vào và thở ra, đạt đến sự tĩnh lặng tự nhiên.)
2.52: Tatah kshiyate prakaranam.
(Từ đó, lớp màn vô minh che mờ ánh sáng nội tâm bị mài mòn và tiêu hủy.)
2.53: Dharanasu cha yogyata manasah.
(Và tâm trí trở nên đủ năng lực, xứng đáng để bước vào chi phần tập trung [Dharana].)
2.54: Svavishayasamprayoge chittasya swarupanukara iva indriyanam pratyaharah.
(Pratyahara là trạng thái khi các giác quan rút lui khỏi đối tượng bên ngoài, trở về mô phỏng bản chất tâm thức bên trong.)
2.55: Tatah parama vashyatendriyanam.
(Từ đó, hành giả đạt được quyền làm chủ tối thượng đối với các giác quan của mình.)
CHƯƠNG 3: VIBHUTI PADA (CHƯƠNG VỀ NĂNG LỰC VÀ THÀNH TỰU - 56 CÂU)
3.1: Deshasya dharana manasah.
(Tập trung [Dharana] là việc giữ cho tâm trí neo đậu vào một không gian hoặc đối tượng duy nhất.)
3.2: Tatra pratyaya-ekatanata dhyanam.
(Thiền định [Dhyana] là dòng chảy ý thức không bị đứt đoạn, hướng hoàn toàn về đối tượng đó.)
3.3: Tadeva arthamatra-nirbhasam svarupa-shunyeva samadhih.
(Định tâm tối thượng [Samadhi] đạt được khi ý thức chỉ còn phản chiếu thuần túy hình ảnh đối tượng, dường như đánh mất bản ngã.)
3.4: Trayam ekatra samyamah.
(Ba chi phần này khi hợp nhất hướng về cùng một đối tượng được gọi là Samyama [Nội hợp].)
3.5: Tajjayat prajnalokah.
(Từ việc làm chủ được Samyama, ánh sáng của trí tuệ bừng nở.)
3.6: Tasya bhumisu viniyogah.
(Sự thực hành Samyama này được áp dụng và tinh luyện qua từng tầng bậc khác nhau.)
3.7: Trayam antarangam purvebhyah.
(Ba chi phần này mang tính nội môn hơn so với năm chi phần trước.)
3.8: Tad api bahirangam nirbijasya.
(Tuy nhiên, ngay cả ba chi phần nội môn này vẫn còn mang tính ngoại môn khi so sánh với trạng thái Nirbija Samadhi.)
3.9: Vyutthana-nirodha-samskara-pradurbhavau nirodha-kshana-chitta-anvayo nirodha-parinamah.
(Sự biến dịch của trạng thái định tâm xảy ra khi tâm trí dập tắt các tiềm năng xao lãng cũ để dung dưỡng khoảnh khắc tĩnh lặng.)
3.10: Tasya prashanta-vahita samskarat.
(Dòng chảy tĩnh lặng đó trở nên ổn định nhờ vào sự lặp lại của các dấu ấn thanh tịnh.)
3.11: Sarvarthata-ekagratayoh kshayodayau chittasya samadhi-parinamah.
(Sự biến dịch của Samadhi là quá trình dập tắt xu hướng phân tán, vun đắp khả năng tập trung vào một điểm.)
3.12: Tatah punah shantoditau tulya-pratyayau chittasya ekagrata-parinamah.
(Sự biến dịch của sự nhất tâm xảy ra khi ý niệm vừa lặn xuống lại đồng nhất với ý niệm vừa nổi lên.)
3.13: Etena bhutendriyeshu dharma-lakshana-avastha-parinamah vyakhyatah.
(Bằng cách này, sự biến dịch về bản tính, tướng trạng và trạng thái của các nguyên tố vật chất cùng giác quan cũng được giải thích tương tự.)
3.14: Shanta-odita-avyapadeshya-dharminu-pati dharmi.
(Chủ thể vật chất là thực thể mang trong mình các tính chất đã biểu hiện, chưa biểu hiện, và tiềm ẩn chưa thể gọi tên.)
3.15: Kramanyatvam parinama-anyatve hetuh.
(Sự khác biệt trong trình tự tiến triển chính là nguyên nhân tạo nên sự khác biệt của các hình thái biến dịch.)
3.16: Parinama-traya-samyamad atita-anagata-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên ba loại biến dịch mang lại tri thức thấu suốt về quá khứ và vị lai.)
3.17: Shabda-artha-pratyayanam itaretara-adhyasad sankarah tadvibhaoga-samyamat sarva-bhuta-ruta-jnanam.
(Thực hiện Samyama để phân định rạch ròi âm thanh, ý nghĩa và khái niệm giúp hành giả thấu hiểu ngôn ngữ của mọi loài sinh vật.)
3.18: Samskara-sakshat-karanat purva-jati-jnanam.
(Nhìn thấu trực tiếp các dấu ấn tâm lý trong quá khứ giúp hành giả biết rõ về các kiếp sống trước.)
3.19: Pratyayasya para-chitta-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên các nội dung ý thức giúp hành giả đọc được suy nghĩ trong tâm trí người khác.)
3.20: Na ca tat salambanam tasyavishayibhuta tvat.
(Tuy nhiên, năng lực đó chỉ thấu suốt nội dung ý thức chứ không nắm bắt được đối tượng nền tảng, trừ khi tập trung vào cả đối tượng ấy.)
3.21: Kaya-rupa-samyamat tad-grahya-shakti-stambhe chakshu-prakashe 'ntardhanam.
(Thực hiện Samyama trên hình tướng cơ thể, làm ngưng trệ năng lực phản chiếu ánh sáng, khiến thân xác hành giả trở nên tàng hình.)
3.22: Sopakramam nirupakramam cha karma tat-samyamaparanta-jnanam arishtebhyo va.
(Thực hiện Samyama trên nghiệp lực giúp hành giả biết trước thời điểm lâm终 của mình.)
3.23: Maitry-adishu balani.
(Thực hiện Samyama trên các phẩm chất như lòng từ bi sẽ mang lại nguồn sức mạnh tâm linh to lớn.)
3.24: Baleshu hasti-baladini.
(Thực hiện Samyama trên sức mạnh của các loài vật, hành giả sở hữu nguồn sức mạnh thể chất tương đương.)
3.25: Prulyaka-alokanyasat sukshma-vyavahita-viprakrishta-jnanam.
(Hướng ánh sáng tập trung của Samyama vào nội tâm giúp thấu suốt những vật vi tế, bị che khuất hoặc ở khoảng cách xa.)
3.26: Bhuvanajnanam surye samyamat.
(Thực hiện Samyama trên mặt trời mang lại tri thức về hệ thống các cõi giới vũ trụ.)
3.27: Chandre tara-vyuha-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên mặt trăng mang lại tri thức về trật tự các chòm sao.)
3.28: Dhruve tad-gati-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên sao Bắc Đẩu mang lại tri thức về quỹ đạo chuyển động của các vì sao.)
3.29: Nabhi-chakre vyuha-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên luân xa rốn mang lại tri thức về cấu trúc và sự vận hành cơ thể.)
3.30: Kantha-kshut-pipasa-nivrittih.
(Thực hiện Samyama trên vùng cổ họng giúp chấm dứt hoàn toàn cảm giác đói và khát.)
3.31: Kurma-nadi-sthairyam.
(Thực hiện Samyama trên ống năng lượng Kurma-nadi mang lại sự tĩnh lặng và vững chãi tuyệt đối.)
3.32: Murdha-jyotishi siddha-darshanam.
(Thực hiện Samyama trên ánh sáng đỉnh đầu giúp diện kiến và giao cảm với các bậc thành tựu giác ngộ.)
3.33: Pratibhad va sarvam.
(Hoặc thông qua ánh sáng trực giác, hành giả có thể thấu suốt tất cả mọi tri thức một cách tự nhiên.)
3.34: Hridaye chitta-samvit.
(Thực hiện Samyama vào trái tim giúp thấu hiểu tường tận về bản chất và cấu trúc tâm thức.)
3.35: Sattva-purushayor atyantasankirnayoh pratyayavishesaho bhogah pararthatvat svartha-samyamat purusha-jnanam.
(Thực hiện Samyama nhằm thấu suốt Chân ngã vì chính bản chất của Ngài sẽ mang lại tri thức tối thượng về Purusha.)
3.36: Tatah pratibha-shravana-vedana-adarsha-asvada-varta-jayante.
(Từ tri thức đó, các năng lực giác quan siêu việt lần lượt xuất hiện: trực giác, thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác siêu việt.)
3.37: Te samadhau upasargah vyutthane siddhayah.
(Những năng lực này là thành tựu đối với tâm bình thường, nhưng là chướng ngại trên con đường tiến tới Samadhi tối thượng.)
3.38: Bandha-karana-shaithilyat prachara-samvedanac cha chittasya para-sharira-aveshah.
(Khi nghiệp lực được nới lỏng và thấu suốt dòng năng lượng, tâm thức có thể thâm nhập vào thể xác người khác.)
3.39: Udana-jayaj jala-panka-kantakeshv asanga utkrantish cha.
(Làm chủ luồng khí hướng lên [Udana], hành giả có thể đi trên nước, bùn, g*i hoặc bay lên.)
3.40: Samana-jayaj jvalanam.
(Làm chủ luồng khí điều hòa [Samana], hành giả có thể tỏa hào quang rực rỡ như lửa.)
3.41: Shrotrakashayoh sambandha-samyamad divyam srotram.
(Thực hiện Samyama trên mối liên hệ giữa thính giác và không gian, hành giả đạt được khả năng nghe siêu việt.)
3.42: Kayakashayoh sambandha-samyamat laghu-tula-samapattes cha akasha-gamanam.
(Thực hiện Samyama trên mối liên hệ giữa cơ thể và không gian, kết hợp trạng thái đồng điệu với vật nhẹ, giúp bay lượn trong không trung.)
3.43: Bahir akalpita vrittir maha-videha tatah prakarana-kshayah.
(Trạng thái tâm thức phóng ra ngoài không vướng mắc gọi là Maha-videha [Đại vô tướng], giúp thiêu rụi lớp màn vô minh.)
3.44: Sthula-svarupa-sukshmanvaya-arthavattva-samyamad bhuta-jayah.
(Thực hiện Samyama trên năm yếu tố vật chất qua năm khía cạnh giúp đạt quyền làm chủ tuyệt đối tự nhiên [Bhuta-jaya].)
3.45: Tatah anima-adi-pradurbhavah kaya-sampad dharma-anabhighatas cha.
(Từ đó, các năng lực như thu nhỏ cơ thể xuất hiện cùng sự hoàn hảo thân xác và sự bất khả xâm phạm.)
3.46: Rupa-lavanya-bala-vajra-samhananatvani kaya-sampat.
(Sự hoàn hảo của thân xác bao gồm vẻ đẹp rạng rỡ, sức hút, thể chất cường tráng và sự rắn chắc như kim cương.)
3.47: Grahana-svarupa-asmita-anvaya-arthavattva-samyamad indriya-jayah.
(Thực hiện Samyama trên năm khía cạnh của giác quan giúp đạt quyền làm chủ tuyệt đối các giác quan [Indriya-jaya].)
3.48: Tatao mano-javitwam vikarana-bhavah pradhana-jayah cha.
(Từ đó đạt được tốc độ di chuyển như ý nghĩ, năng lực hoạt động giác quan không cần thể xác, và làm chủ nguyên lý vật chất nguyên thủy.)
3.49: Sattva-purusha-anyata-khyati-matrasya sarva-bhavadhishtatritvam sarvajnatritvam cha.
(Khi đạt trí tuệ thấu suốt sự khác biệt giữa Sattva và Purusha, hành giả cai quản toàn diện mọi cõi giới và đạt trí tuệ toàn tri.)
3.50: Tadd-vairagyad api dosha-bija-kshaye kaivalyam.
(Ngay cả với quyền năng toàn tri ấy, nếu tiếp tục xả ly, làm tiêu hủy tận gốc hạt giống phiền não, sẽ đạt Giải thoát tuyệt đối.)
3.51: Sthanyupanimantrane sanga-smayakaranam punar anishta-prasangat.
(Khi được mời gọi bởi các thực thể quyền năng ở cõi cao, tuyệt đối không vướng mắc hay kiêu ngạo để tránh tái tạo đau khổ.)
3.52: Kshana-tat-kramayoh samyamad vivekajam jnanam.
(Thực hiện Samyama trên khoảnh khắc hiện tại và chuỗi trình tự thời gian sinh ra Trí tuệ phân biệt tối thượng.)
3.53: Jati-lakshana-deshair anyata-anavachchhedat tulyayos tatah pratipattih.
(Trí tuệ đó giúp phân định rạch ròi ngay cả giữa hai đối tượng thoạt nhìn giống hệt nhau về chủng loại, đặc điểm, không gian.)
3.54: Tarakam sarva-vishayam sarvatha-vishayam akramam ceti vivekajam jnanam.
(Trí tuệ phân biệt tối thượng [Tarakam] thấu suốt toàn diện mọi đối tượng, bao quát mọi chiều kích và vượt trên mọi giới hạn thời gian.)
3.55: Sattva-purushayoh shuddhi-samye kaivalyam.
(Khi độ trong sáng của tâm thức [Sattva] ngang bằng sự thanh tịnh tuyệt đối của Chân ngã [Purusha], đạt được Giải thoát tuyệt đối.)
CHƯƠNG 4: KAIVALYA PADA (CHƯƠNG VỀ SỰ GIẢI THOÁT TUYỆT ĐỐI - 34 CÂU)
4.1: Janma-oshadhi-mantra-tapah-samadhijah siddhayah.
(Các năng lực siêu nhiên có thể đạt được thông qua bẩm sinh, thảo mộc, thần chú, tôi luyện nội tâm, hoặc qua định tâm.)
4.2: Jaty-antara-parinamah prakrity-purat.
(Sự chuyển hóa sang hình thái sống hay chủng loại khác diễn ra do sự tràn đầy của các phẩm tính tự nhiên.)
4.3: Nimittam aprayojakam prakritinam varana-bhedas tu tatah kshetrikavat.
(Nguyên nhân kích hoạt không trực tiếp tạo ra sự biến đổi của tự nhiên, mà đóng vai trò gỡ bỏ lớp màn ngăn cản, giống như người nông dân khơi dòng nước.)
4.4: Nirmana-chittany asmita-matrat.
(Các thể tâm thức nhân tạo được tạo ra từ nguyên lý bản ngã thuần túy [Asmita-matra].)
4.5: Pravritti-bhede prayojakam chittam ekam anekanam.
(Dù có nhiều thể tâm thức được tạo ra, tâm thức nguyên gốc vẫn là chủ thể chi phối tất cả các thể tâm thức phân rã ấy.)
4.6: Tatra dhyana-jam anasayam.
(Trong các loại tâm thức, chỉ tâm thức sinh ra từ thiền định là hoàn toàn không để lại dấu ấn nghiệp lực nào.)
4.7: Karma ashuklam akrishnam yoginas trividham itaresam.
(Nghiệp lực của hành giả Yoga không đen tối cũng không trắng sáng, trong khi nghiệp lực người thông thường có ba loại.)
4.8: Tatah tad-vipaka-anugunanam evabhivyaktir vasananam.
(Từ đó, chỉ những khuynh hướng tiềm ẩn [Vasana] phù hợp với quả báo mới được kích hoạt và bộc lộ.)
4.9: Jati-desha-kala-vyavahitanam apy anantaryam smriti-samskarayor ekarupatvat.
(Dù bị cách trở bởi kiếp sống, không gian hay thời gian, các khuynh hướng nghiệp lực vẫn kết nối liền mạch do ký ức và dấu ấn có cùng bản chất.)
4.10: Tasam anaditvam cashiroh nityatvat.
(Các khuynh hướng tiềm ẩn đó không có điểm khởi đầu, bởi bản năng khao khát sinh tồn là thường hằng vĩnh cửu.)
4.11: Hetu-phala-ashrayalambanaih sangrihitatvad esham abhave tad-abhavah.
(Do được kết nối bởi nguyên nhân, quả báo, điểm tựa và đối tượng bám chấp, nên khi các yếu tố đó bị tiêu diệt, khuynh hướng ấy cũng tiêu diệt.)
4.12: Atita-anagatam svarupato 'sty adhva-bhedad dharmanam.
(Quá khứ và tương lai thực chất vẫn tồn tại theo bản chất riêng, chỉ là các đặc tính biểu hiện ở các thời kỳ khác nhau.)
4.13: Te vyakta-sukshmah guna-atmanah.
(Các hiện tượng dù hiển lộ hay ẩn khuất vi tế, bản chất đều là sự biểu hiện của ba phẩm tính tự nhiên [Gunas].)
4.14: Vastu-samyat chitta-parinamah.
(Sự thống nhất và ổn định của đối tượng vật chất chính là yếu tố tạo nên sự biến dịch đồng bộ trong tâm trí.)
4.15: Vastu-samye chitta-bhedat tayor vibhaktah panthah.
(Dù chung một đối tượng, nhưng do cấu trúc tâm thức mỗi người khác nhau nên cách nhìn nhận và trải nghiệm cũng hoàn toàn khác nhau.)
4.16: Na cha eka-chitta-tantram vastu tat-pramankam tada kim syat.
(Một đối tượng không phụ thuộc hoàn toàn vào tâm thức một cá nhân; nếu không có ai quan sát, nó vẫn tồn tại khách quan.)
4.17: Tad-uparaga-apekshatvach cittasya vastu jnatrajnatam.
(Sự vật được nhận biết hay không là tùy thuộc vào việc tâm trí có bị tác động, phản chiếu bởi sự vật đó hay không.)
4.18: Sada jnatas chittavrittayas tat-prabhoh purushasyaparinamitvat.
(Mọi biến động tâm trí luôn được Chân ngã nhận biết, bởi Chân ngã có bản chất ý thức thuần khiết bất biến.)
4.19: Na tat svabhasam drisyatvat.
(Tâm trí không thể tự chiếu rọi chính mình, bởi bản thân nó cũng chỉ là một đối tượng bị quan sát.)
4.20: Ekasamaye cobhayanavadharanam.
(Tâm trí không thể đồng thời vừa quan sát chính mình vừa quan sát thế giới bên ngoài trong cùng một khoảnh khắc.)
4.21: Chitta-antara-drishye buddhi-buddher ati-prasannah smriti-sankaras cha.
(Nếu giả định tâm thức này được quan sát bởi tâm thức khác nữa, chuỗi quan sát sẽ kéo dài vô tận, dẫn đến lẫn lộn ký ức.)
4.22: Chiter apratisankramayas tad-akarapattau chitta-samvedanam.
(Khi tâm thức phản chiếu được hình ảnh của Chân ngã thuần khiết, lúc ấy tâm trí mới thấu hiểu được chính bản ngã nội tại.)
4.23: Drashtr-drisyam uparaktam chittam sarvartham.
(Tâm trí khi bị tác động bởi cả Người quan sát và Đối tượng sẽ trở thành chiếc gương phản chiếu toàn diện mọi thứ.)
4.24: Tad asankhyeya-vasanabhir chitram api parartham samhatya-karitvat.
(Dù tâm trí được tô điểm bởi vô số khuynh hướng tiềm ẩn, nó vẫn hoạt động vì lợi ích của Chân ngã, vì nó là thể tổng hợp.)
4.25: Vishesha-darshina atma-bhava-bhavana-vinivrittih.
(Đối với người đã thấu triệt sự khác biệt tinh tế, mọi ảo tưởng và ham muốn về bản ngã hoàn toàn chấm dứt.)
4.26: Tada viveka-nimnam kaivalya-pragbharam cittam.
(Khi ấy, tâm trí nghiêng hẳn về Trí tuệ phân biệt và hướng thẳng đến trạng thái Giải thoát tuyệt đối.)
4.27: Tach-chidreshu pratyayantarebhyah samskaribhyah.
(Trong những khoảng hở đó, các dấu ấn phiền não cũ vẫn có thể trồi lên do ảnh hưởng của các ý niệm tiềm ẩn khác.)
4.28: Haasam esham kleshavad uktam.
(Cách thức loại bỏ những dấu ấn rớt lại này cũng tương tự như cách loại bỏ các phiền não đã đề cập.)
4.29: Prasamkhyane 'py akusidasya sarvatha viveka-khyater dharma-meghah samadhih.
(Khi xả ly ngay cả với trí tuệ uyên thâm nhất, Trí tuệ phân biệt đạt đỉnh cao, dẫn đến tầng định Dharma-megha Samadhi [Định mây pháp].)
4.30: Tatah klesha-karma-nivrittihi.
(Từ tầng định đó, mọi phiền não và nghiệp lực được gột sạch hoàn toàn và chấm dứt vĩnh viễn.)
4.31: Tada sarvavarana-mala-apetasya jnanasya anantyaj jneyam alpam.
(Khi lớp màn vô minh được rũ sạch, trí tuệ trở nên vô lượng vô biên, khiến những điều cần biết còn lại trở nên nhỏ bé.)
4.32: Tatah kritarthanam parinamakrama-samaptir gunanam.
(Lúc đó, ba phẩm tính tự nhiên hoàn thành sứ mệnh, chuỗi biến dịch thế giới hiện tượng chấm dứt đối với người đã giải thoát.)
4.33: Kshana-pratiyogi parinamapara-nirgrahya kramah samaptanam gunanam.
(Chuỗi trình tự biến dịch tương ứng với từng khoảnh khắc của các phẩm tính tự nhiên cũng khép lại hoàn toàn.)
4.34: Purushartha-shunya-gunanam pratiprasavah kaivalyam svarupa-pratishta va chiter shaktir iti.
(Kaivalyam là trạng thái khi các phẩm tính tự nhiên thu hồi trở lại cội nguồn, và Ý thức thuần khiết an trú vĩnh cửu trong bản chất đích thực của chính mình.)
Tran Liem
Tây Đô Academy - Trung tâm đào tạo HLV Yoga Cần Thơ