Yogi Luy Liêm - Yoga & Ayurveda

Yogi Luy Liêm - Yoga & Ayurveda Cùng nhau chúng ta trở về 🙏

Xây Dựng Thương Hiệu - Ảo giác và B**g Bóng Niềm Tin.Trên hành trình yoga mình đi, có những người từng vang dội trong ng...
03/10/2026

Xây Dựng Thương Hiệu - Ảo giác và B**g Bóng Niềm Tin.

Trên hành trình yoga mình đi, có những người từng vang dội trong ngành, lớn mạnh uy tín và phát triển bứt phá nhanh chóng, anh đến với yoga từ vấn đề sức khoẻ, chọn bước tiếp vì sứ mệnh cao cả trả lại cho đời, tin vào triết lý yoga mà đi, đến một thời điểm nhân sự 1 lên 100, doanh thu 1 lên 1 tỷ, sự chuyên nghiệp cần có, anh thuê người đào tạo nhân sự, hợp tác kinh doanh, mở rộng mặt bằng, và một điều quan trọng không thể thiếu là “xây dựng thương hiệu”

商 (Thương): Kinh doanh, buôn bán.
號 (Hiệu): Tên gọi, danh hiệu, dấu hiệu nhận diện.

Xây dựng thương hiệu là hành trình chủ động kể câu chuyện của chính bạn (hoặc doanh nghiệp), thể hiện năng lực cốt lõi (Thương) và khắc sâu uy tín, bản sắc vào tâm trí công chúng (Hiệu) để tạo ra sự tin tưởng, lòng trung thành và giá trị bền vững theo thời gian.

Nhưng: Điều được hướng dẫn không phải là kể câu chuyện của nhân/ hiệu, mà là:
- “điều tốt, thuận lợi cho kinh doanh, có sự tin yêu” hãy viết lên
- “Điều chưa tốt, ảnh hưởng đến cái uy” thì cất đi
Như vậy, nói không sai, chỉ là nói 1 nửa, người nghe tin 1 nửa và nghĩ là tất cả, vô minh hình thành.

Ông bà lại dạy “tốt khoe xấu che” lại dạy thêm “thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”

- “Khoe” quá thành “thổi phồng, gieo ảo tưởng
- “che” quá gây “thiếu minh bạch”, gieo vô minh.

Đến 1 ngày sai lầm biến cố xảy ra, với kinh doanh thì mất tiền, với con người thì mất lòng, nhưng với “học trò” thì mất đi niềm tin vào 1 con đường.

Vì đã lỡ xem vị ấy là thầy, lỡ xem vị ấy là giác ngộ chân lý, lỡ xem vị ấy là tu tập yogi …

Nhưng hành trình trưởng thành ai thành “chánh quả” còn hiện diện ở đây?

Sau biến cố, sự tin yêu trở thành nỗi hận và xem thường nhiều năm, mình đã nhìn cảnh ấy 5 năm, có nhiều đau lòng chuyển sang nuối tiếc rồi xin bài học… con đường này ko đơn giản là kinh doanh!

Bài học quá lớn khi những con người đang trên hành trình trao truyền đầy những tổn thương, vô minh vẫn đang tìm về lại được đặt cho chữ “thầy”, “cô”

Tiếng Phạn có từ Guru
Gu: Nghĩa là bóng tối, sự vô minh, màn đêm của sự thiếu hiểu biết.
Ru: Nghĩa là ánh sáng, người xua tan đi bóng tối đó.

Guru chính là "Bậc đạo sư", "Thầy tâm linh" – người dẫn đường, soi sáng, giúp học trò bước từ bóng tối của sự mê lầm, vô minh đi đến ánh sáng của trí tuệ, sự thức tỉnh và chân lý.

Người thầy/ cô xuất phát từ chữ Sư, Không chỉ là người truyền chữ, "sư" trong truyền thống còn mang ý nghĩa là bậc đạo sư, người làm mẫu mực về nhân cách, đạo đức và lối sống để học trò noi theo.

Thời đi học thầy mình rất dễ thương được cả lớp yêu quý, sau này thầy li dị và lấy một học trò, thầy bị cả lớp tẩy chay, xì xào cả trường, bao điều tốt đẹp thầy đã làm ai còn nhớ, bao đêm dạy kèm giúp ôn bài thi cử còn ai nhớ?

Đó là lí do cá nhân m không tự xưng là “cô” khi đi chia sẻ bao giờ cả, gánh chưa nổi.

Xây dựng thương hiệu không sai, nhưng truyền thông sao cho “chánh” là điều cần cân nhắc … bài học lớn.

Ứng dụng:
- Tôn trọng hành trình trưởng thành của người khác, cuộc đời này vốn đã đầy tổn thương.

- Có cũng được, chưa thì học, thuận thì tốt, nghịch chẳng sao, cân bằng cũng được, mất cân bằng cũng được, hệ quả cũng được, hậu quả cũng được, không ai khó chịu với người đang trên con đường tu sửa, chỉ là sửa chưa xong đừng tủ thảm đỏ lên để người khác sụp ổ gà.

- Truyền thông sao cho đúng, bớt gây ảo tưởng cho người khác.

- Khuyến khích người khác tự thân, tự thấy, đừng tin vì hâm mộ hay yêu quý.

- Bớt khen người khác quá mức, gieo thêm những ảo tưởng về họ dù là người bạn yêu quý thật, đó là góc nhìn của bạn, có sao nói vậy là tốt nhất.

- Satnam, Ong namo guru dev namo, sa ta na ma … mantra nhiều lời dạy, kinh sách nhiều quy luật, nhắc nhớ thường thường.

Chào ngày mời xinh đẹp nhiều yêu thương 🥰🥰🥰 Tran Liem

Khi cảm xúc, suy nghĩ (tâm trí) và hành động không cùng nhìn về một hướng — muốn buông bỏ nhưng lòng vẫn bám chấp, lý tr...
26/09/2026

Khi cảm xúc, suy nghĩ (tâm trí) và hành động không cùng nhìn về một hướng — muốn buông bỏ nhưng lòng vẫn bám chấp, lý trí ép buộc nhưng cảm xúc kháng cự — con người ta tạo ra sự hao hụt năng lượng nghiêm trọng. Các tia năng lượng bị bẻ gãy, tản mát và ngắt quãng vì nội tâm không tìm được tiếng nói chung.

Dù đúng sai tốt xấu hoàn hảo hay chưa theo cái nhìn của đời, điều đó ko quan trọng bằng sự nhất thể bên trong chính bạn!

Tính toàn vẹn không là sự hoàn hảo không tì vết, mà là dũng khí ôm trọn mọi mảnh vỡ — dù sáng hay tối, dù vui hay buồn, dù đúng hay sai — để quy tụ tất cả về chung một bản ngã chân thật, nơi tâm trí và thân thể hòa hợp thành một thể thống nhất trọn vẹn.

Các chiều chuyển động của các khớp lớn và các nhóm cơ liên quan
26/09/2026

Các chiều chuyển động của các khớp lớn và các nhóm cơ liên quan

✅ Khớp cắn và tư thế toàn thân có mối liên kết chặt chẽ. Sự mất cân bằng ở hàm hoặc khớp cắn có thể tạo ra chuỗi thay đổ...
24/09/2026

✅ Khớp cắn và tư thế toàn thân có mối liên kết chặt chẽ.
Sự mất cân bằng ở hàm hoặc khớp cắn có thể tạo ra chuỗi thay đổi bù trừ trên toàn bộ hệ cơ xương khớp và ngược lại.
Nhai 1 bên hoặc thói quen siết hàm làm thay đổi vị trí của đầu, từ đó gây căng thẳng cho các cơ vùng cổ và lưng.

✅ Tình trạng căng cơ này kéo theo sự thay đổi độ nghiêng của khung chậu, làm tăng áp lực lên các cơ gập hông và phá vỡ đường cong sinh lý của toàn bộ cột sống.
Việc khắc phục các vấn đề về hàm mặt và chậu thường đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chuyên ngành, kết hợp giữa nha khoa và vật lý trị liệu để tái lập cân bằng cho chuỗi vận động.

- National Institutes of Health (NIH) / PubMed: Các nghiên cứu tổng quan hệ thống về mối tương quan giữa Rối loạn khớp thái dương hàm (TMD) và tư thế cơ thể toàn thân (Global Posture).

- Journal of Physical Therapy Science: Các tài liệu phân tích về hệ thống chuỗi cơ (Kinetic Chain) và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa trục đầu - cổ - khung chậu.
- The Journal of Craniomandibular & Sleep Practice (CRANIO): Các nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế sinh cơ học kết nối giữa hàm mặt và sự cân bằng cột sống.

HALASANA (Tư Thế Cái Cày) - Giải Tỏa Căng Thẳng Cổ Vai Gáy Tư thế Cái Cày (Halasana) là một trong những Asana kinh điển ...
23/09/2026

HALASANA (Tư Thế Cái Cày) - Giải Tỏa Căng Thẳng Cổ Vai Gáy

Tư thế Cái Cày (Halasana) là một trong những Asana kinh điển tác động mạnh mẽ lên toàn bộ dải thân sau (Superficial Back Line (SBL - Đường sau nông) – bao gồm cơ duỗi cột sống (spinal extensors), cơ thang (trapezius), gân khoeo (hamstrings) và các cơ bắp chân.

Khi được thực hiện đúng cách, tư thế này giúp giải tỏa áp lực vùng cổ vai gáy, kích thích hệ thần kinh và làm dịu tâm trí.

Tuy nhiên, do cấu trúc cơ thể mỗi người khác nhau, sự co rút ở gân khoeo hay cơ lưng thường tạo ra lực kéo ngược, khiến người tập khó hạ chân chạm sàn, gù cột sống, từ đó vô tình dồn toàn bộ trọng lượng đè nén lên đốt sống cổ.

Để thực hiện Halasana một cách an toàn, không cần phải vội vàng ép cơ thể chạm đất.
Việc sử dụng dụng cụ hỗ trợ chính là chìa khóa giúp cơ thể thả lỏng và duy trì sự thẳng hàng:

Bảo vệ và giải phóng áp lực cho cổ: Kê dụng cụ dưới vai, chăn, gối yoga hoặc gạch xốp, để phần đầu nằm ngoài mép chăn.
Điều này giúp tạo ra khoảng trống an toàn, giữ cho cổ thoáng và không bị chèn ép.

Định vị hông và cột sống: Nên giữ hông không quá vượt khỏi vai để tránh làm gập đốt sống cổ quá mức.

Hỗ trợ khi dải thân sau còn co cứng: Nếu gân khoeo và lưng chưa đủ linh hoạt, đừng cố gắng đưa chân xuống sàn.
Hãy sử dụng ghế và gối ôm (bolster) để làm điểm tựa cho bàn châ, chân chạm ghế, hoặc tường giúp gân khoeo được thả lỏng hoàn toàn, cột sống vươn dài tự nhiên mà không bị kéo căng quá mức.

Việc kết hợp dụng cụ không làm giảm giá trị của tư thế, mà ngược lại, giúp học viên tiếp cận chiều sâu của Asana một cách an toàn.

"Kẻ Lang Thang" Trong Cơ Thể: Bí Mật Dây Thần Kinh Phế Vị & Trục Ruột - Não 🤯Ruột chính là bộ não thứ hai, và giữa ruột ...
23/09/2026

"Kẻ Lang Thang" Trong Cơ Thể: Bí Mật Dây Thần Kinh Phế Vị & Trục Ruột - Não 🤯

Ruột chính là bộ não thứ hai, và giữa ruột với đầu có một sợi dây cáp ngầm cực kỳ quyền lực mang tên Dây thần kinh Phế vị (Vagus Nerve).

1. Dây thần kinh Phế vị là ai mà quyền lực thế?
Tên tiếng Latin của nó là Vagus, nghĩa là "Kẻ lang thang". Nó là dây thần kinh dài nhất cơ thể: xuất phát từ thân não, xuyên qua cổ, ngực, cơ hoành, rồi cắm sâu xuống tận ruột, chạm đến mọi cơ quan tối quan trọng như tim, phổi, dạ dày, gan, tụy.

Nó chính là bàn tay nối cơ thể thành một bản thể thống nhất, đập tan cái tư duy chia cắt kiểu "đau dạ dày chỉ chữa dạ dày, trầm cảm chỉ chữa não".
Nhưng điểm bất ngờ nhất ở đây là gì?
80% đến 90% sợi thần kinh trong dây này là hướng tâm—nghĩa là thông tin chạy từ ruột lên não, chứ không phải não ra lệnh cho ruột!

2. "Bộ não thứ hai" trong bụng và hội chứng "Ruột rò rỉ"
Ngay trong thành ruột của chúng ta có tới 500 triệu tế bào thần kinh (nhiều hơn cả tủy sống), tạo ra 90 - 95% Serotonin (hormone hạnh phúc).

Khi bạn ăn uống bừa bãi, stress kéo dài hoặc để vi khuẩn xấu lấn át lợi khuẩn:
- Tín hiệu nhiễu: Vi khuẩn xấu "quấy rối" các đầu dây phế vị, gửi báo động giả dối lên não khiến tâm trạng bất an, lo âu mạn tính.

- Thành ruột thủng (Ruột rò rỉ): Thiếu lợi khuẩn tạo axit béo chuỗi ngắn làm mỏng màng bảo vệ, độc tố lọt vào máu kích hoạt viêm mạn tính toàn thân - gốc rễ của hàng loạt bệnh tật và tự miễn.

3. Cẩm nang 5 trụ cột phục hồi

🥗 Ăn uống (Nuôi vi sinh, giảm viêm): Ưu tiên thực phẩm ấm nóng, dễ tiêu. Bổ sung chất xơ hòa tan và thực phẩm lên men tự nhiên để bồi đắp lợi khuẩn, giữ cho "bức tường ruột" luôn vững chãi. Nhai thật kỹ vì tiêu hóa bắt đầu từ miệng!

🧘 Vận động (Giải phóng nội tạng): Tập các bài vặn xoắn cột sống nhẹ nhàng, mở ngực để "massage" trực tiếp cơ quan tiêu hóa và giải phóng các đường mạc cơ (fascia) bị bó cứng, giúp dây phế vị không bị chèn ép.

🌬️ Hơi thở (Cái phanh thần tốc): Thực hiện thở bụng chậm (thở cơ hoành), đặc biệt là kéo dài nhịp thở ra gấp đôi hít vào (Ví dụ: Hít 4 nhịp - Thở 8 nhịp). Khi cơ hoành chuyển động sâu, nó kích thích trực tiếp lên dây phế vị, phát tín hiệu "bình an" tức thì cho não bộ, dập tắt cơn căng thẳng.

🌿 Thư giãn (Lắng nghe nội cảm): Dành ra 10 phút mỗi ngày nằm thả lỏng (Savasana), đưa sự chú tâm về vùng bụng, quan sát hơi thở phồng xẹp để rèn luyện khả năng "nghe" tín hiệu từ cơ thể thay vì chỉ mãi suy nghĩ.

🧠 Suy nghĩ (Gỡ nút thắt tâm lý): Nhận diện những dòng suy nghĩ tiêu cực, stress mạn tính. Hiểu rằng mỗi cơn giận dữ hay lo âu của bạn chính là liều thuốc độc đầu độc trục ruột - não từ trên xuống. Thực hành chánh niệm, buông bỏ để "tổng" không ra lệnh bậy cho "chi nhánh" dưới bụng nữa.

Cơ thể có thể là cổ máy hư chỗ nào thay chỗ đó
Cơ thể cũng là 1 khu vườn tổng hoà mà chẳng thể hái lá vàng xuống gắn lá xanh lên ❤️

22/09/2026

Mẹ Và Con 💗 Giai điệu bình an tặng mẹ 🤰🏼 Kết nối – chữa lành – an vui 🕉️

⁠ ⁠ ⁠ ⁠ ⁠ ⁠ ⁠ ⁠ ⁠

Mượn trăn trở từ học viên hôm qua, m nghĩ cần làm rõ ở SỰ THẤY BIẾT - CHÂN LÍ & SỰ THẬT và SỰ PHÁN XÉT.So sánh không có ...
22/09/2026

Mượn trăn trở từ học viên hôm qua, m nghĩ cần làm rõ ở SỰ THẤY BIẾT - CHÂN LÍ & SỰ THẬT và SỰ PHÁN XÉT.

So sánh không có gì sai, so sánh để nhìn ra điều gì? Và làm gì sau đó!

Có là phán xét khi nói Cái bàn thì cứng hơn cái tấm vài? có tệ khi tấm vải không kiên cố như cái bàn? Tấm vải dùng làm rèm cửa chill chill mà cái bàn sẽ phù hợp cho việc khác.

M có 1 bạn HLV thân vata, mềm mại, vui vẻ nhưng sức mạnh lại không bằng các bạn khác, giao cho bạn đứng lớp thể lực sẽ vất vả chút, và cùng nhau cố gắng rèn luyện, bạn rất nỗ lực nhưng khi có chút thành quả buông ra lại trở về như cũ rất nhanh, hành trình tu dưỡng sẽ cần thêm thời gian để chuyển "lượng" thành "chất"

Ayurveda nói rằng tạng người được hình thành từ bào thai và khó thay đổi trong suốt đời người, tuổi thơ lập trình nên khá nhiều điều vận hành quãng đời sau này.

Hiểu bản điểm mạnh của các tạng người không phải để phán xét, hay đóng khung bản thân và buông xuôi, mà là để thấu hiểu, tôn trọng sự khác biệt và đặt đúng chỗ, từ đó biết cách tu dưỡng, uyển chuyển thích nghi.

Nhưng khi giao cho bạn ấy phụ trách lớp yoga cho người cao tuổi và yoga bầu bạn lại làm rất tốt, như một bản năng không cần nỗ lực nhiều.

Mọi sự khác biệt đều có thể phát huy vai trò.

Hãy đọc sách “7 quy luật tinh thần của thành công: quy luật mục đích cuộc đời và nỗ lực tối thiểu sẽ thấy điều này.

“7 quy luật tinh thần của thành công” là một trong những cuốn sách mình được cài đặt vào sớm và tin tưởng như một đức tin, m ứng dụng có kết quả nên muốn chia sẻ, ở đó có 1 quy luật: NHÂN - QUẢ.

Sự việc ở hiện tại có thể là KẾT QUẢ hoặc HẬU QUẢ, thì nó đã là quả không thay đổi được ở hiện tại, bước CHUYỂN NGHIỆP sau đó là: CHẤP NHẬN - XIN BÀI HỌC - GIEO HẠT GIỐNG MỚI. Biến bài học thành món quà cho người khác.

Ví dụ: Tivoli Audio (Đài radio huyền thoại): Người sáng lập Henry Kloss nhận thấy các dòng radio trên thị trường thời đó hoặc là âm thanh quá tệ, hoặc là quá cồng kềnh, phức tạp. Thay vì tiếp tục chịu đựng, ông tự mình nghiên cứu và tạo ra một chiếc radio nhỏ gọn, âm thanh cực ấm, dễ sử dụng đến mức trở thành biểu tượng thiết kế.

James Dyson (Máy hút bụi Dyson): Ông nhận thấy chiếc máy hút bụi trong nhà cứ dùng một lúc là bị tắc nghẽn túi lọc và giảm lực hút. Ông đã tự tạo ra dòng máy hút bụi không túi lốc xoáy thay đổi toàn bộ ngành công nghiệp gia dụng toàn cầu.

Hay ngay tại Việt Nam: Một người từ nỗi đau của nghiện ngập đi qua nó và mở luôn trung tâm cai nghiện hiệu quả (Trung tâm cai nghiện tự nguyện Tiêu Vĩnh Ngọc)

Cuộc đời đôi khi thật kỳ diệu, khi những nỗi đau sâu sắc nhất lại trở thành hạt giống cho lòng trắc ẩn và sức mạnh lớn lao nhất. Chuyển hóa nghịch cảnh thành sứ mệnh giúp đời là hành trình của rất nhiều tâm hồn.

Biến cố (nghiệp hay nhân quả) không phải sự trừng phạt, nó chỉ là có hội để mỗi người học lấy bài học (tìm về quy luật cân bằng) và trưởng thành - và bài ai nấy học.

Nếu không có óc quan sát suy luận, sự so sánh làm sao tìm ra các phẩm chất khác biệt và sử dụng phù hợp hoặc cải tiến.

Hôm rồi mình chia sẻ với chị “Em hay massage bầu, em hay hỏi vui các bạn là sanh con để làm gì, nhiều bạn không biết điều này”
Chị hỏi “Rồi sau đó em làm sao?”
Em ghi nhận, ai nhận thì e gửi tài liệu thai giáo cho xem, một số bạn biết rất rõ rồi thì thôi.

Điều này được trao truyền từ cô giáo dạy m trong khoá giáo viên mầm non, khi các con mâu thuẫn, bình tĩnh rồi hãy hỏi “Con giúp được gì cho bạn không?”

Đứng trước một suy nghĩ có tính “so sánh” sau này, câu hỏi tự đặt ra là “có làm đc gì không?” “Có giúp được gì không” Nếu không đủ sức thì nhận biết thôi, chấp nhận thôi, đủ sức thì thay đổi.

Chấp nhận ở đây là thừa nhận sự thật đang diễn ra mà không nổi sân, không chống đối thực tại, để từ đó có thể đưa ra hành động tiếp theo, cho dù là tiếp tục hay rời đi.

Hành trình đó không đơn giản, nhất là cái con người cầu toàn và có cái tôi cao, tâm tính hay nổi lên, nhưng nhắc nhớ hoài sẽ thành lối mòn tư duy, bên trong ai cũng có hạt giống của sự thấy biết, lòng trắc ẩn và năng lực hành động.

Trước những điều chưa nuôi dưỡng điều mình muốn, khác biệt hay mâu thuẫn
nếu nguyên do từ mình “xin bài học”
nếu bài học của ngưởi - tự hỏi “làm được gì không? Giúp được gì chăng?”

Hiện tại có thể là phúc lạc, có thể là khổ đau, nhưng hãy tin rằng rác có thể thành phân, bùn có thể lại lại chất liệu hoá sen, hành động và chờ đợi những quy luật vận hành.

Tập nhanh hay tập chậm?
Lý thuyết hay thực hành?
Lưng thẳng hay lưng cong?
Thở bụng hay thở ngực?

Đường còn dài, đời vốn đã đầy ảo giác
Nhận biết - Chấp nhận - Chuyển hoá
Cùng nhau chúng ta trở về.

❤️❤️❤️🙏🙏🙏🕉️🕉️🕉️

🎧 Audiobook: [7 quy luật tinh thần của thành công] : https://youtu.be/YokuVnhcHTY

📒 Tài liệu: [Yoga Sutra]: Cập nhập dần: https://www.facebook.com/share/p/1dnvwHhtbS/

YOGA SUTRA CỦA PATANJALI - TOÀN BỘ 196 CÂU KINH CHƯƠNG 1: SAMADHI PADA (CHƯƠNG VỀ ĐỊNH TÂM - 51 CÂU)1.1: Atha yoga-anush...
22/09/2026

YOGA SUTRA CỦA PATANJALI - TOÀN BỘ 196 CÂU KINH

CHƯƠNG 1: SAMADHI PADA (CHƯƠNG VỀ ĐỊNH TÂM - 51 CÂU)
1.1: Atha yoga-anushasanam.
(Bây giờ, sự hướng dẫn về Yoga xin được bắt đầu.)

1.2: Yogash chitta-vritti-nirodhah.
(Yoga là sự lắng dịu những biến động của tâm trí.)

1.3: Tada drashtuh svarupe 'vasthanam.
(Khi đó, người quan sát an trú trong bản chất đích thực của chính mình.)

1.4: Vritti-sarupyam itratra.
(Ở những thời điểm khác, người quan sát đồng hóa mình với những biến động của tâm trí.)

1.5: Vrittayah panca-taytayah klishta-aklishtah.
(Các biến động của tâm trí có năm loại, mang tính chất gây phiền não [klishta] hoặc không gây phiền não [aklishta].)

1.6: Pramana-viparyaya-vikalpa-nidra-smritayah.
(Năm loại đó là: Nhận thức đúng đắn [Pramana], Nhận thức sai lầm [Viparyaya], Tưởng tượng [Vikalpa], Giấc ngủ sâu [Nidra], và Ký ức [Smriti].)

1.7: Pratyaksha-anumana-agamah pramanani.
(Nhận thức đúng đắn xuất phát từ tri giác trực tiếp [Pratyaksha], suy luận [Anumana], và lời chứng thực đáng tin cậy [Agama].)

1.8: Viparyayo mithya-jnanam atad-rupa-pratishtham.
(Nhận thức sai lầm là tri giác sai lệch, không phản ánh đúng bản chất thực của sự vật.)

1.9: Shabda-jnananupati vastu-shunyo vikalpah.
(Tưởng tượng là sự hình thành khái niệm dựa trên ngôn từ nhưng không có đối tượng thực tế tương ứng.)

1.10: Abhava-pratyayalambana vrittir nidra.
(Giấc ngủ sâu là biến động tâm trí dựa trên sự vắng mặt của các nội dung thức tỉnh.)

1.11: Anubhuta-vishayasampramoshah smritih.
(Ký ức là sự không để cho các đối tượng từng trải nghiệm bị phai mờ.)

1.12: Abhyasa-vairagyabhyam tat-nirodhah.
(Sự lắng dịu các biến động tâm trí ấy đạt được nhờ vào Thực hành tinh tấn [Abhyasa] và Xả ly [Vairagya].)

1.13: Tatra sthitau yatno 'bhyasah.
(Trong đó, Abhyasa là nỗ lực vững vàng để duy trì sự ổn định của tâm trí.)

1.14: Sa tu dirgha-kala-nairantarya-satkara-sevito dridha-bhumih.
(Sự thực hành đó trở nên vững chắc khi được duy trì lâu dài, không gián đoạn và với thái độ tôn kính, chân thành.)

1.15: Drishta-shravanavishaya-vitrishnah vashikara-sanjna vairagyam.
(Vairagya [Xả ly] là trạng thái làm chủ tâm trí, không còn bị cuốn hút hay thèm muốn bởi các dục vọng nhìn thấy hay nghe thấy.)

1.16: Tat param purusha-khyater guna-vaitrishnyam.
(Sự xả ly cao tột là khi không còn vướng mắc ngay cả với các phẩm tính tự nhiên [Gunas], đạt được nhờ sự thấu triệt Chân ngã [Purusha].)

1.17: Vitarka-vichara-ananda-asmita-rupa-anugamat samprajnyatah.
(Samprajnata Samadhi [Định có ý thức] đạt được thông qua sự đi kèm của: Tầm [Vitarka], Tứ [Vichara], Hỷ lạc [Ananda], và Tự ngã thuần khiết [Asmita].)

1.18: Virama-pratyaya-abhyasa-purvaha samskara-sesho 'nyah.
(Trạng thái định thứ hai [Asamprajnata Samadhi] xuất hiện sau nỗ lực buông bỏ mọi suy nghĩ, chỉ còn lại các tiềm năng ẩn sâu [Samskara] trong tâm thức.)

1.19: Bhava-pratyeyo videha-prakriti-layanam.
(Trạng thái tái sinh vào cõi vô sắc hoặc cõi tự nhiên là do kết quả của những dạng thức định chưa trọn vẹn.)

1.20: Shraddha-virya-smriti-samadhi-prajna-purvaka itaresam.
(Đối với những người khác, con đường đạt đến Samadhi đi qua các bước: Lòng tin [Shraddha], Năng lượng [Virya], Chánh niệm [Smriti], Định tâm [Samadhi], và Trí tuệ [Prajna].)

1.21: Tivra-samveganam asannah.
(Mức độ thành tựu đến rất gần đối với những ai có ý chí mãnh liệt, tinh tấn tột cùng.)

1.22: Mridu-madhya-adhimatratvat tato 'pi visheshah.
(Sự khác biệt về thời gian đạt kết quả nhanh hay chậm tùy thuộc vào cường độ tu tập: nhẹ, trung bình hay mãnh liệt.)

1.23: Ishvara-pranidhanaad va.
(Hoặc sự định tâm cũng có thể đạt được thông qua sự sùng kính, phó thác toàn diện lên đấng Tối cao [Ishvara].)

1.24: Klesha-karma-vipakashayair aparamrishtah purusha-vishesha ishvarah.
(Ishvara là một dạng thức đặc biệt của Chân ngã, hoàn toàn không bị vướng mắc bởi phiền não, nghiệp lực, quả báo hay các tiềm năng tâm lý.)

1.25: Tatra niratisayam sarvajna-bijam.
(Ở Ngài, hạt giống của sự toàn trí đạt đến mức độ tuyệt đối, không gì vượt qua được.)

1.26: Sa purvesham api guruh kalenanavachchhedat.
(Ngài là bậc đạo sư của cả các bậc cổ đại, vì Ngài vượt lên trên giới hạn của thời gian.)

1.27: Tasya vachakah pranavah.
(Biểu âm biểu thị Ngài chính là tiếng OM [Pranava].)

1.28: Tajjapas tad-artha-bhavanam.
(Trì tụng âm OM đó đồng thời với việc chiêm nghiệm, thấu hiểu sâu sắc ý nghĩa của nó.)

1.29: Tatah pratyak-chetana-adhigamo 'py antaraya-abhavash ca.
(Từ đó, hành giả đạt được sự thức tỉnh hướng nội và tiêu trừ mọi chướng ngại trên con đường tu tập.)

1.30: Vyadhi-styana-samshaya-pramadalasya-avirati-bhrantidarsanalabdha-bhumikatv-anavasthitatvani chitta-vikshepas te 'ntarayah.
(Các chướng ngại làm xao lãng tâm trí [Antaraya] gồm 9 yếu tố: Bệnh tật, Trì trệ, Nghi ngờ, Lơ đễnh, Lười biếng, Thèm muốn giác quan, Hiểu lầm, Mất kiên nhẫn với các tầng định, và Sự bất ổn khi giữ vững định tâm.)

1.31: Duhkha-daurmanasya-angamajayatva-shvasaprashvasa vikshepa-sahabhuvah.
(Đau khổ, chán nản, sự run rẩy của cơ thể, cùng với hơi thở ra vào nặng nhọc là những triệu chứng đi kèm với sự xao lãng tâm trí.)

1.32: Tat-pratisedhartham eka-tattvabhyasah.
(Để khắc phục những chướng ngại ấy, nên thực hành tập trung tâm ý vào một nguyên lý duy nhất.)

1.33: Maitri-karuna-mudita-upekshanam sukha-duhkha-punya-apunya-vishayanam bhavanatash cittaprasadanam.
(Tâm trí sẽ trở nên thanh tịnh khi hành giả nuôi dưỡng lòng từ bi với người hạnh phúc, trắc ẩn với kẻ đau khổ, niềm vui trước người đức hạnh, và sự thản nhiên trước kẻ lỗi lầm.)

1.34: Prachhardana-vidharanabhyam va pranasya.
(Hoặc sự bình an đạt được thông qua việc chủ động thở ra thật mạnh và giữ lại hơi thở.)

1.35: Vishayavati va pravrittir utpanna manasah sthiti-nibandhini.
(Hoặc sự tập trung vào các đối tượng cảm giác vi tế xuất hiện giúp tâm trí đạt được sự ổn định.)

1.36: Vishoka va jyotishmati.
(Hoặc sự tập trung vào trạng thái quang minh, vượt trên mọi khổ đau.)

1.37: Vita-raga-vishayam va chittam.
(Hoặc sự tập trung vào tâm trí của các bậc cao tăng đã gột rửa sạch mọi tham ái.)

1.38: Swapna-nidra-jnanalambanam va.
(Hoặc sự tập trung vào tri thức thu nhận được từ trạng thái chiêm bao hoặc giấc ngủ sâu.)

1.39: Yatha-bhimata-dhyanad va.
(Hoặc bất kỳ đối tượng thiền định nào phù hợp và mang lại cảm hứng cao quý cho hành giả.)

1.40: Paramanu-parama-mahatvanto 'sya vashikarah.
(Tâm trí của người đã làm chủ được định lực có khả năng thấu suốt từ hạt vi trần nhỏ nhất cho đến vũ trụ vĩ đại nhất.)

1.41: Kshina-vriter abhijatasyaeva maner grahitr-grahana-grahyeshu tat-stha-tad-anjanata samapattih.
(Khi các biến động tâm trí đã lắng dịu, tâm trở nên trong sáng như viên ngọc thuần khiết, phản chiếu trọn vẹn bản chất của cả Người quan sát, Phương tiện quan sát và Đối tượng quan sát [Samapatti].)

1.42: Tatra shabdartha-jnana-vikalpaih sankirna savitarka samapattih.
(Savitarka Samapatti là trạng thái định mà ở đó tri giác còn lẫn lộn giữa âm thanh, ý niệm khái niệm và từ ngữ mô tả.)

1.43: Smriti-parishuddhau svarupa-shunya-ivaartha-matra-nirbhasa nirvitarka.
(Nirvitarka Samapatti đạt được khi ký ức được gột sạch, tâm vượt qua hình tướng ngôn từ, chỉ còn lại ánh sáng thuần túy của đối tượng.)

1.44: Etayaiva savichara nirvichara cha sukshma-vishaya vyakhyatah.
(Bằng cách thức tương tự, các trạng thái Savichara và Nirvichara đối với các đối tượng vi tế cũng được giải thích như vậy.)

1.45: Sukshma-vishayatvam chalinga-paryavasanam.
(Giới hạn cuối cùng của các đối tượng vi tế chính là Prakriti nguyên thủy.)

1.46: Ta eva sabeejah samadhih.
(Tất cả các trạng thái định kể trên vẫn còn chứa đựng "hạt giống" [Sabeeja Samadhi].)

1.47: Nirvichara-vaisharadye 'dhyatma-prasadah.
(Khi đạt đến sự trong sáng tuyệt đối trong trạng thái Nirvichara, tâm thức bên trong trở nên hoàn toàn thanh tịnh.)

1.48: Ritambhara tatra prajna.
(Trí tuệ phát sinh ở tầng này được gọi là Ritambhara - Trí tuệ của Sự thật tối thượng.)

1.49: Shruta-anumana-prajnabhyam anya-vishaya vishesharthatvat.
(Trí tuệ này vượt trội hơn hẳn tri thức thu được qua nghe hiểu thông thường hay suy luận logic, bởi vì nó thấu suốt bản chất đặc thù của vạn vật.)

1.50: Taj-jah samskaro 'nya-samskara-pratibandhi.
(Dấu ấn sinh ra từ trí tuệ chân thật này sẽ ngăn chặn và xóa bỏ mọi dấu ấn phiền não cũ khác trong tâm trí.)

1.51: Tasyapi nirodhe sarva-nirodhan nirbijo samadhih.
(Khi ngay cả dấu ấn cuối cùng này cũng được làm cho lắng dịu, thì mọi hoạt động của tâm thức hoàn toàn dừng lại, đạt đến trạng thái Nirbija Samadhi - Định không hạt giống, sự giải thoát tuyệt đối.)

CHƯƠNG 2: SADHANA PADA (CHƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH - 55 CÂU)
2.1: Tapah-swadhyayeshvara-pranidhanani kriya-yogah.
(Kriya Yoga bao gồm: Sự tôi luyện nội tâm [Tapas], Sự tự học/nghiên cứu kinh điển [Svadhyaya], và Sự phó thác toàn diện cho đấng Tối cao [Ishvara Pranidhana].)

2.2: Samadhi-bhavanarthah klesha-tanu-karanarthash ca.
(Mục đích của Kriya Yoga là thúc đẩy trạng thái Định tâm [Samadhi] và làm suy yếu các phiền não [Klesha].)

2.3: Avidya-asmita-raga-dvesha-abhiniveshah klesha.
(Năm loại phiền não là: Vô minh [Avidya], Sự chấp ngã [Asmita], Ham muốn/Tham ái [Raga], Sân hận/Ghét bỏ [Dvesha], và Nỗi sợ cái chết/Bám chấp vào sự sống [Abhinivesha].)

2.4: Avidya ksetram uttesham prasupta-tanu-vicchinna-udaranam.
(Vô minh là gốc rễ của những phiền não khác, dù chúng đang ở trạng thái ngủ ngầm [prasupta], suy yếu [tanu], bị kìm nén [vicchinna], hay bộc lộ mạnh mẽ [udara].)

2.5: Anitya-ashuci-duhkha-anatmasu nitya-shuchi-sukha-atma-khyatir avidya.
(Vô minh là sự lầm lẫn: coi cái vô thường là thường còn, cái bất tịnh là thanh tịnh, đau khổ là hạnh phúc, và cái không phải Chân ngã thành Chân ngã.)

2.6: Drig-darshana-shaktyor ekatmata iva asmita.
(Sự chấp ngã [Asmita] là trạng thái lầm tưởng rằng năng lực nhìn [Người quan sát - Purusha] và năng lực thấy [Phương tiện/Tâm trí] là một thể thống nhất.)

2.7: Sukha-anushayi ragah.
(Tham ái [Raga] là sự bám chấp đi theo sau cảm giác hạnh phúc, dễ chịu.)

2.8: Duhkha-anushayi dveshah.
(Sân hận [Dvesha] là sự bực dọc, chống đối đi theo sau cảm giác đau khổ.)

2.9: Swaraha-vishi-vidusho 'pi tatha rudho 'bhiniveshah.
(Nỗi sợ cái chết [Abhinivesha] là bản năng tự nhiên gắn chặt vào ngay cả những bậc trí thức uyên bác, ai cũng có nỗi sợ bị hủy diệt.)

2.10: Te pratiprasava-heyah suksmah.
(Những phiền não vi tế này có thể bị loại bỏ bằng cách đưa chúng trở lại nguồn cội nguyên thủy của chúng.)

2.11: Dhyana-heyas tadvrittayah.
(Những biến động bộc lộ của phiền não có thể được xóa bỏ thông qua phương pháp Thiền định [Dhyana].)

2.12: Klesha-mulah karmashayo drishta-adrishta-janma-vedaniyah.
(Gốc rễ của nghiệp lực [Karmashaya] bắt nguồn từ các phiền não, và nó sẽ trổ quả trong kiếp sống hiện tại hoặc các kiếp sống vị lai.)

2.13: Sati mule tad-vipako jatir ayur bhogah.
(Chừng nào gốc rễ phiền não còn tồn tại, quả báo của nó sẽ quyết định thân phận tái sinh [Jati], tuổi thọ [Ayur], và những trải nghiệm sướng khổ [Bhoga] của kiếp đó.)

2.14: Te hlada-paritapa-phalah punya-apunya-hetutvat.
(Những quả báo đó mang lại niềm vui hoặc nỗi khổ, tùy thuộc vào việc nhân tạo ra chúng là thiện [punya] hay bất thiện [apunya].)

2.15: Parinama-tapa-samskara-duhkhair guna-vritti-virodhach cha duhkham eva sarvam vivekinah.
(Đối với người có trí tuệ, mọi thứ đều là đau khổ vì những hệ lụy của nó: nỗi đau do biến đổi, nỗi đau do khát khao, và nỗi đau từ các dấu ấn tâm lý, cộng với sự xung đột giữa các phẩm tính tự nhiên [Gunas].)

2.16: Heyam duhkham anagatam.
(Nỗi đau khổ chưa tới là điều cần phải được ngăn ngừa và vượt qua.)

2.17: Drashtr-drisyayoh samyogo heya-hetuh.
(Nguyên nhân gốc rễ gây ra đau khổ là sự đồng hóa giữa Người quan sát [Purusha] và Đối tượng bị quan sát [Prakriti/Thế giới vật chất].)

2.18: Prakasha-kriya-sthiti-shilam bhutendriyatmakam bhogapavargartham drishyam.
(Thế giới hiện tượng [Drishyam] có bản chất gồm ba phẩm tính, bao gồm các nguyên tố vật chất và giác quan, với mục đích kép là cung cấp trải nghiệm và mang lại sự giải thoát.)

2.19: Vishesh-avvishesha-lingamatra-alingani gunaparvani.
(Các cấp độ biểu hiện của phẩm tính tự nhiên gồm bốn trạng thái: có đặc thù, không đặc thù, chỉ có tướng trạng, và không tướng trạng [alinga - prakriti nguyên thủy].)

2.20: Drashta drimatrah shuddho 'pi pratyayAnupashyah.
(Người quan sát [Purusha] là ý thức thuần khiết, tuy hoàn toàn trong sáng nhưng lại nhìn nhận mọi thứ thông qua lăng kính của tâm trí.)

2.21: Tad-artha eva drishyasya atma.
(Bản chất của thế giới hiện tượng tồn tại hoàn toàn vì mục đích của chính Người quan sát đó.)

2.22: Kritartham prati nashtam apy anashtam tad-anya-sadharanatvat.
(Đối với người đã đạt được mục đích giải thoát, thế giới hiện tượng coi như đã biến mất đối với họ, nhưng nó vẫn tồn tại đối với những người khác chưa giác ngộ.)

2.23: Swasvami-shaktyoh swarupo-paldhi-hetuh samyogah.
(Sự kết hợp giữa Người quan sát và Đối tượng là nguyên nhân giúp cho cả hai nhận ra bản chất thực sự của năng lực sở hữu và đối tượng sở hữu.)

2.24: Tasya hetur avidya.
(Nguyên nhân của sự kết hợp sai lầm đó chính là sự Vô minh [Avidya].)

2.25: Tad-abhavat samyogabhavo hanam, taddrik-shaktih kaivalyam.
(Khi vô minh chấm dứt, sự kết hợp lầm lẫn ấy cũng chấm dứt, đó là trạng thái Giải thoát [Hana]. Khi đó, Người quan sát an trú trong sự tự do tuyệt đối [Kaivalyam].)

2.26: Viveka-khyatir aviplava hanopayah.
(Phương tiện để đạt đến sự giải thoát là Trí tuệ phân biệt [Viveka-khyati] không bao giờ bị lung lay hay gián đoạn.)

2.27: Tasya saptadha pranta-bhumih prajna.
(Trí tuệ đạt được của hành giả trải qua bảy tầng bậc tiến hóa tiệm tiến hướng tới sự hoàn thiện.)

2.28: Yogang-anushtanad ashuddhi-kshaye jnana-diptir aviveka-khyateh.
(Thông qua việc thực hành các chi phần của Yoga, sự bất tịnh bị tiêu hủy, ánh sáng trí tuệ bừng sáng dẫn đến Trí tuệ phân biệt.)

2.29: Yama-niyama-asana-pranayama-pratyahara-dharana-dhyana-samadhayo 'shtavangani.
(Tám chi phần của Yoga bao gồm: Yama, Niyama, Asana, Pranayama, Pratyahara, Dharana, Dhyana, và Samadhi.)

2.30: Ahimsa-satya-asteya-brahmacharya-aparigraha yamah.
(Năm giới luật Yama là: Bất bạo động, Chân thật, Không trộm cắp, Tiết độ, và Không tham lam.)

2.31: Ete jati-desha-kala-samayanavachchhinnah sarvabhauma mahavratam.
(Những giới luật này cấu thành Đại thệ nguyện [Mahavrata], áp dụng phổ quát ở mọi nơi, mọi lúc.)

2.32: Shaucha-santosa-tapa-swadhyayeshvara-pranidhanani niyamah.
(Năm kỷ luật Niyama là: Thanh tịnh, Tri túc, Tôi luyện nội tâm, Tự học kinh điển, và Phó thác cho đấng Tối cao.)

2.33: Vitarka-badhane pratipaksha-bhavanam.
(Khi bị quấy nhiễu bởi ý nghĩ tiêu cực, hãy thực hành quán tưởng ngược lại [Pratipaksha-bhavana].)

2.34: Vitarka hinsadayah krita-kararita-anumodita lobha-krodha-moha-purvaka mridu-madhya-adhimatra duhkha-ajnana-ananta-phala iti pratipaksha-bhavanam.
(Các ý nghĩ tiêu cực như bạo lực,... dù tự mình làm, sai khiến người làm hay đồng thuận, xuất phát từ tham sân si, đều mang lại quả báo vô tận là đau khổ và vô minh, do đó cần quán tưởng ngược lại.)

2.35: Ahimsa-pratishthayam tatsannidhau vira-tyagah.
(Khi vững chãi trong giới Bất bạo động, mọi sự thù hận đều tự động tiêu tan trong sự hiện diện của hành giả.)

2.36: Satya-pratishthayam kriya-phalashrayatvam.
(Khi vững chãi trong tính Chân thật, mọi lời nói và hành động đều đạt được kết quả xác thực.)

2.37: Asteya-pratishthayam sarva-ratn-opasthanam.
(Khi vững chãi trong giới Không trộm cắp, mọi báu vật đều tựu về quanh hành giả.)

2.38: Brahmacharya-pratishthayam virya-labhah.
(Khi vững chãi trong sự Tiết độ, hành giả đạt được nguồn năng lượng sinh lực mạnh mẽ.)

2.39: Aparigraha-sthairye janma-kathamta-sambodhah.
(Khi vững chãi trong giới Không tham lam, hành giả thấu suốt được bí ẩn về bản chất sự sống và các kiếp luân hồi.)

2.40: Shauchat swanga-jugupsa parair asamsargah.
(Từ sự Thanh tịnh, hành giả phát sinh sự nhàm chán đối với thân xác hữu hạn và không còn vướng mắc giao thiệp lỏng lẻo.)

2.41: Sattva-shuddhi-saumanasya-ekagrya-jendriya-jayatma-darshana-yogyatvani cha.
(Từ thanh tịnh nội tâm mang lại sự trong sáng tâm thức, sự hoan hỉ, định tâm cao độ và năng lực làm chủ giác quan.)

2.42: Samtosad anuttamah sukha-labhah.
(Từ tính Tri túc, hành giả đạt được niềm hạnh phúc tối thượng không gì sánh bằng.)

2.43: Kayendriya-siddhir ashuddhi-kshayat tapasah.
(Từ sự Tôi luyện nội tâm [Tapas], cấu uế bị tiêu hủy, mang lại sự thành tựu cho cơ thể và các giác quan.)

2.44: Svadhyayad ishtadevata-samprayogah.
(Từ sự Tự học kinh điển, hành giả đạt được sự kết nối và giao cảm với các bậc thầy tâm linh hoặc đấng thiêng liêng.)

2.45: Samadhi-siddhir ishvara-pranidhanat.
(Sự thành tựu trạng thái Định tâm đạt được thông qua sự phó thác toàn diện cho đấng Tối cao.)

2.46: Sthira-sukham asanam.
(Tư thế Yoga [Asana] phải là trạng thái vững chãi và thoải mái.)

2.47: Prayatna-shaithilyananta-samapattibhyam.
(Tư thế được hoàn thiện thông qua việc buông bỏ nỗ lực gượng gạo và sự thiền định hợp nhất vào vô cực.)

2.48: Tato dvandvanabhighatah.
(Từ đó, hành giả không còn bị quấy rầy bởi các cặp đối lập như nóng-lạnh, sướng-khổ.)

2.49: Tasmin sati shvasa-prashvasayor gati-vichchhedah pranayamah.
(Khi đã đạt Asana, bước tiếp theo là Pranayama: sự kiểm soát dòng chuyển động hít vào và thở ra.)

2.50: Bahyabhyantara-stambha-vrittir desha-kala-sankhyabhih paridrishto dirgha-sukshmah.
(Pranayama có ba dạng biến động (thở ra, hít vào, giữ lại), được đo lường bằng không gian, thời gian và số lượng nhịp.)

2.51: Bahyabhyantara-vishayakshepi caturthah.
(Dạng thứ tư của Pranayama vượt qua cả phạm vi hít vào và thở ra, đạt đến sự tĩnh lặng tự nhiên.)

2.52: Tatah kshiyate prakaranam.
(Từ đó, lớp màn vô minh che mờ ánh sáng nội tâm bị mài mòn và tiêu hủy.)

2.53: Dharanasu cha yogyata manasah.
(Và tâm trí trở nên đủ năng lực, xứng đáng để bước vào chi phần tập trung [Dharana].)

2.54: Svavishayasamprayoge chittasya swarupanukara iva indriyanam pratyaharah.
(Pratyahara là trạng thái khi các giác quan rút lui khỏi đối tượng bên ngoài, trở về mô phỏng bản chất tâm thức bên trong.)

2.55: Tatah parama vashyatendriyanam.
(Từ đó, hành giả đạt được quyền làm chủ tối thượng đối với các giác quan của mình.)

CHƯƠNG 3: VIBHUTI PADA (CHƯƠNG VỀ NĂNG LỰC VÀ THÀNH TỰU - 56 CÂU)
3.1: Deshasya dharana manasah.
(Tập trung [Dharana] là việc giữ cho tâm trí neo đậu vào một không gian hoặc đối tượng duy nhất.)

3.2: Tatra pratyaya-ekatanata dhyanam.
(Thiền định [Dhyana] là dòng chảy ý thức không bị đứt đoạn, hướng hoàn toàn về đối tượng đó.)

3.3: Tadeva arthamatra-nirbhasam svarupa-shunyeva samadhih.
(Định tâm tối thượng [Samadhi] đạt được khi ý thức chỉ còn phản chiếu thuần túy hình ảnh đối tượng, dường như đánh mất bản ngã.)

3.4: Trayam ekatra samyamah.
(Ba chi phần này khi hợp nhất hướng về cùng một đối tượng được gọi là Samyama [Nội hợp].)

3.5: Tajjayat prajnalokah.
(Từ việc làm chủ được Samyama, ánh sáng của trí tuệ bừng nở.)

3.6: Tasya bhumisu viniyogah.
(Sự thực hành Samyama này được áp dụng và tinh luyện qua từng tầng bậc khác nhau.)

3.7: Trayam antarangam purvebhyah.
(Ba chi phần này mang tính nội môn hơn so với năm chi phần trước.)

3.8: Tad api bahirangam nirbijasya.
(Tuy nhiên, ngay cả ba chi phần nội môn này vẫn còn mang tính ngoại môn khi so sánh với trạng thái Nirbija Samadhi.)

3.9: Vyutthana-nirodha-samskara-pradurbhavau nirodha-kshana-chitta-anvayo nirodha-parinamah.
(Sự biến dịch của trạng thái định tâm xảy ra khi tâm trí dập tắt các tiềm năng xao lãng cũ để dung dưỡng khoảnh khắc tĩnh lặng.)

3.10: Tasya prashanta-vahita samskarat.
(Dòng chảy tĩnh lặng đó trở nên ổn định nhờ vào sự lặp lại của các dấu ấn thanh tịnh.)

3.11: Sarvarthata-ekagratayoh kshayodayau chittasya samadhi-parinamah.
(Sự biến dịch của Samadhi là quá trình dập tắt xu hướng phân tán, vun đắp khả năng tập trung vào một điểm.)

3.12: Tatah punah shantoditau tulya-pratyayau chittasya ekagrata-parinamah.
(Sự biến dịch của sự nhất tâm xảy ra khi ý niệm vừa lặn xuống lại đồng nhất với ý niệm vừa nổi lên.)

3.13: Etena bhutendriyeshu dharma-lakshana-avastha-parinamah vyakhyatah.
(Bằng cách này, sự biến dịch về bản tính, tướng trạng và trạng thái của các nguyên tố vật chất cùng giác quan cũng được giải thích tương tự.)

3.14: Shanta-odita-avyapadeshya-dharminu-pati dharmi.
(Chủ thể vật chất là thực thể mang trong mình các tính chất đã biểu hiện, chưa biểu hiện, và tiềm ẩn chưa thể gọi tên.)

3.15: Kramanyatvam parinama-anyatve hetuh.
(Sự khác biệt trong trình tự tiến triển chính là nguyên nhân tạo nên sự khác biệt của các hình thái biến dịch.)

3.16: Parinama-traya-samyamad atita-anagata-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên ba loại biến dịch mang lại tri thức thấu suốt về quá khứ và vị lai.)

3.17: Shabda-artha-pratyayanam itaretara-adhyasad sankarah tadvibhaoga-samyamat sarva-bhuta-ruta-jnanam.
(Thực hiện Samyama để phân định rạch ròi âm thanh, ý nghĩa và khái niệm giúp hành giả thấu hiểu ngôn ngữ của mọi loài sinh vật.)

3.18: Samskara-sakshat-karanat purva-jati-jnanam.
(Nhìn thấu trực tiếp các dấu ấn tâm lý trong quá khứ giúp hành giả biết rõ về các kiếp sống trước.)

3.19: Pratyayasya para-chitta-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên các nội dung ý thức giúp hành giả đọc được suy nghĩ trong tâm trí người khác.)

3.20: Na ca tat salambanam tasyavishayibhuta tvat.
(Tuy nhiên, năng lực đó chỉ thấu suốt nội dung ý thức chứ không nắm bắt được đối tượng nền tảng, trừ khi tập trung vào cả đối tượng ấy.)

3.21: Kaya-rupa-samyamat tad-grahya-shakti-stambhe chakshu-prakashe 'ntardhanam.
(Thực hiện Samyama trên hình tướng cơ thể, làm ngưng trệ năng lực phản chiếu ánh sáng, khiến thân xác hành giả trở nên tàng hình.)

3.22: Sopakramam nirupakramam cha karma tat-samyamaparanta-jnanam arishtebhyo va.
(Thực hiện Samyama trên nghiệp lực giúp hành giả biết trước thời điểm lâm终 của mình.)

3.23: Maitry-adishu balani.
(Thực hiện Samyama trên các phẩm chất như lòng từ bi sẽ mang lại nguồn sức mạnh tâm linh to lớn.)

3.24: Baleshu hasti-baladini.
(Thực hiện Samyama trên sức mạnh của các loài vật, hành giả sở hữu nguồn sức mạnh thể chất tương đương.)

3.25: Prulyaka-alokanyasat sukshma-vyavahita-viprakrishta-jnanam.
(Hướng ánh sáng tập trung của Samyama vào nội tâm giúp thấu suốt những vật vi tế, bị che khuất hoặc ở khoảng cách xa.)

3.26: Bhuvanajnanam surye samyamat.
(Thực hiện Samyama trên mặt trời mang lại tri thức về hệ thống các cõi giới vũ trụ.)

3.27: Chandre tara-vyuha-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên mặt trăng mang lại tri thức về trật tự các chòm sao.)

3.28: Dhruve tad-gati-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên sao Bắc Đẩu mang lại tri thức về quỹ đạo chuyển động của các vì sao.)

3.29: Nabhi-chakre vyuha-jnanam.
(Thực hiện Samyama trên luân xa rốn mang lại tri thức về cấu trúc và sự vận hành cơ thể.)

3.30: Kantha-kshut-pipasa-nivrittih.
(Thực hiện Samyama trên vùng cổ họng giúp chấm dứt hoàn toàn cảm giác đói và khát.)

3.31: Kurma-nadi-sthairyam.
(Thực hiện Samyama trên ống năng lượng Kurma-nadi mang lại sự tĩnh lặng và vững chãi tuyệt đối.)

3.32: Murdha-jyotishi siddha-darshanam.
(Thực hiện Samyama trên ánh sáng đỉnh đầu giúp diện kiến và giao cảm với các bậc thành tựu giác ngộ.)

3.33: Pratibhad va sarvam.
(Hoặc thông qua ánh sáng trực giác, hành giả có thể thấu suốt tất cả mọi tri thức một cách tự nhiên.)

3.34: Hridaye chitta-samvit.
(Thực hiện Samyama vào trái tim giúp thấu hiểu tường tận về bản chất và cấu trúc tâm thức.)

3.35: Sattva-purushayor atyantasankirnayoh pratyayavishesaho bhogah pararthatvat svartha-samyamat purusha-jnanam.
(Thực hiện Samyama nhằm thấu suốt Chân ngã vì chính bản chất của Ngài sẽ mang lại tri thức tối thượng về Purusha.)

3.36: Tatah pratibha-shravana-vedana-adarsha-asvada-varta-jayante.
(Từ tri thức đó, các năng lực giác quan siêu việt lần lượt xuất hiện: trực giác, thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác siêu việt.)

3.37: Te samadhau upasargah vyutthane siddhayah.
(Những năng lực này là thành tựu đối với tâm bình thường, nhưng là chướng ngại trên con đường tiến tới Samadhi tối thượng.)

3.38: Bandha-karana-shaithilyat prachara-samvedanac cha chittasya para-sharira-aveshah.
(Khi nghiệp lực được nới lỏng và thấu suốt dòng năng lượng, tâm thức có thể thâm nhập vào thể xác người khác.)

3.39: Udana-jayaj jala-panka-kantakeshv asanga utkrantish cha.
(Làm chủ luồng khí hướng lên [Udana], hành giả có thể đi trên nước, bùn, g*i hoặc bay lên.)

3.40: Samana-jayaj jvalanam.
(Làm chủ luồng khí điều hòa [Samana], hành giả có thể tỏa hào quang rực rỡ như lửa.)

3.41: Shrotrakashayoh sambandha-samyamad divyam srotram.
(Thực hiện Samyama trên mối liên hệ giữa thính giác và không gian, hành giả đạt được khả năng nghe siêu việt.)

3.42: Kayakashayoh sambandha-samyamat laghu-tula-samapattes cha akasha-gamanam.
(Thực hiện Samyama trên mối liên hệ giữa cơ thể và không gian, kết hợp trạng thái đồng điệu với vật nhẹ, giúp bay lượn trong không trung.)

3.43: Bahir akalpita vrittir maha-videha tatah prakarana-kshayah.
(Trạng thái tâm thức phóng ra ngoài không vướng mắc gọi là Maha-videha [Đại vô tướng], giúp thiêu rụi lớp màn vô minh.)

3.44: Sthula-svarupa-sukshmanvaya-arthavattva-samyamad bhuta-jayah.
(Thực hiện Samyama trên năm yếu tố vật chất qua năm khía cạnh giúp đạt quyền làm chủ tuyệt đối tự nhiên [Bhuta-jaya].)

3.45: Tatah anima-adi-pradurbhavah kaya-sampad dharma-anabhighatas cha.
(Từ đó, các năng lực như thu nhỏ cơ thể xuất hiện cùng sự hoàn hảo thân xác và sự bất khả xâm phạm.)

3.46: Rupa-lavanya-bala-vajra-samhananatvani kaya-sampat.
(Sự hoàn hảo của thân xác bao gồm vẻ đẹp rạng rỡ, sức hút, thể chất cường tráng và sự rắn chắc như kim cương.)

3.47: Grahana-svarupa-asmita-anvaya-arthavattva-samyamad indriya-jayah.
(Thực hiện Samyama trên năm khía cạnh của giác quan giúp đạt quyền làm chủ tuyệt đối các giác quan [Indriya-jaya].)

3.48: Tatao mano-javitwam vikarana-bhavah pradhana-jayah cha.
(Từ đó đạt được tốc độ di chuyển như ý nghĩ, năng lực hoạt động giác quan không cần thể xác, và làm chủ nguyên lý vật chất nguyên thủy.)

3.49: Sattva-purusha-anyata-khyati-matrasya sarva-bhavadhishtatritvam sarvajnatritvam cha.
(Khi đạt trí tuệ thấu suốt sự khác biệt giữa Sattva và Purusha, hành giả cai quản toàn diện mọi cõi giới và đạt trí tuệ toàn tri.)

3.50: Tadd-vairagyad api dosha-bija-kshaye kaivalyam.
(Ngay cả với quyền năng toàn tri ấy, nếu tiếp tục xả ly, làm tiêu hủy tận gốc hạt giống phiền não, sẽ đạt Giải thoát tuyệt đối.)

3.51: Sthanyupanimantrane sanga-smayakaranam punar anishta-prasangat.
(Khi được mời gọi bởi các thực thể quyền năng ở cõi cao, tuyệt đối không vướng mắc hay kiêu ngạo để tránh tái tạo đau khổ.)

3.52: Kshana-tat-kramayoh samyamad vivekajam jnanam.
(Thực hiện Samyama trên khoảnh khắc hiện tại và chuỗi trình tự thời gian sinh ra Trí tuệ phân biệt tối thượng.)

3.53: Jati-lakshana-deshair anyata-anavachchhedat tulyayos tatah pratipattih.
(Trí tuệ đó giúp phân định rạch ròi ngay cả giữa hai đối tượng thoạt nhìn giống hệt nhau về chủng loại, đặc điểm, không gian.)

3.54: Tarakam sarva-vishayam sarvatha-vishayam akramam ceti vivekajam jnanam.
(Trí tuệ phân biệt tối thượng [Tarakam] thấu suốt toàn diện mọi đối tượng, bao quát mọi chiều kích và vượt trên mọi giới hạn thời gian.)

3.55: Sattva-purushayoh shuddhi-samye kaivalyam.
(Khi độ trong sáng của tâm thức [Sattva] ngang bằng sự thanh tịnh tuyệt đối của Chân ngã [Purusha], đạt được Giải thoát tuyệt đối.)

CHƯƠNG 4: KAIVALYA PADA (CHƯƠNG VỀ SỰ GIẢI THOÁT TUYỆT ĐỐI - 34 CÂU)
4.1: Janma-oshadhi-mantra-tapah-samadhijah siddhayah.
(Các năng lực siêu nhiên có thể đạt được thông qua bẩm sinh, thảo mộc, thần chú, tôi luyện nội tâm, hoặc qua định tâm.)

4.2: Jaty-antara-parinamah prakrity-purat.
(Sự chuyển hóa sang hình thái sống hay chủng loại khác diễn ra do sự tràn đầy của các phẩm tính tự nhiên.)

4.3: Nimittam aprayojakam prakritinam varana-bhedas tu tatah kshetrikavat.
(Nguyên nhân kích hoạt không trực tiếp tạo ra sự biến đổi của tự nhiên, mà đóng vai trò gỡ bỏ lớp màn ngăn cản, giống như người nông dân khơi dòng nước.)

4.4: Nirmana-chittany asmita-matrat.
(Các thể tâm thức nhân tạo được tạo ra từ nguyên lý bản ngã thuần túy [Asmita-matra].)

4.5: Pravritti-bhede prayojakam chittam ekam anekanam.
(Dù có nhiều thể tâm thức được tạo ra, tâm thức nguyên gốc vẫn là chủ thể chi phối tất cả các thể tâm thức phân rã ấy.)

4.6: Tatra dhyana-jam anasayam.
(Trong các loại tâm thức, chỉ tâm thức sinh ra từ thiền định là hoàn toàn không để lại dấu ấn nghiệp lực nào.)

4.7: Karma ashuklam akrishnam yoginas trividham itaresam.
(Nghiệp lực của hành giả Yoga không đen tối cũng không trắng sáng, trong khi nghiệp lực người thông thường có ba loại.)

4.8: Tatah tad-vipaka-anugunanam evabhivyaktir vasananam.
(Từ đó, chỉ những khuynh hướng tiềm ẩn [Vasana] phù hợp với quả báo mới được kích hoạt và bộc lộ.)

4.9: Jati-desha-kala-vyavahitanam apy anantaryam smriti-samskarayor ekarupatvat.
(Dù bị cách trở bởi kiếp sống, không gian hay thời gian, các khuynh hướng nghiệp lực vẫn kết nối liền mạch do ký ức và dấu ấn có cùng bản chất.)

4.10: Tasam anaditvam cashiroh nityatvat.
(Các khuynh hướng tiềm ẩn đó không có điểm khởi đầu, bởi bản năng khao khát sinh tồn là thường hằng vĩnh cửu.)

4.11: Hetu-phala-ashrayalambanaih sangrihitatvad esham abhave tad-abhavah.
(Do được kết nối bởi nguyên nhân, quả báo, điểm tựa và đối tượng bám chấp, nên khi các yếu tố đó bị tiêu diệt, khuynh hướng ấy cũng tiêu diệt.)

4.12: Atita-anagatam svarupato 'sty adhva-bhedad dharmanam.
(Quá khứ và tương lai thực chất vẫn tồn tại theo bản chất riêng, chỉ là các đặc tính biểu hiện ở các thời kỳ khác nhau.)

4.13: Te vyakta-sukshmah guna-atmanah.
(Các hiện tượng dù hiển lộ hay ẩn khuất vi tế, bản chất đều là sự biểu hiện của ba phẩm tính tự nhiên [Gunas].)

4.14: Vastu-samyat chitta-parinamah.
(Sự thống nhất và ổn định của đối tượng vật chất chính là yếu tố tạo nên sự biến dịch đồng bộ trong tâm trí.)

4.15: Vastu-samye chitta-bhedat tayor vibhaktah panthah.
(Dù chung một đối tượng, nhưng do cấu trúc tâm thức mỗi người khác nhau nên cách nhìn nhận và trải nghiệm cũng hoàn toàn khác nhau.)

4.16: Na cha eka-chitta-tantram vastu tat-pramankam tada kim syat.
(Một đối tượng không phụ thuộc hoàn toàn vào tâm thức một cá nhân; nếu không có ai quan sát, nó vẫn tồn tại khách quan.)

4.17: Tad-uparaga-apekshatvach cittasya vastu jnatrajnatam.
(Sự vật được nhận biết hay không là tùy thuộc vào việc tâm trí có bị tác động, phản chiếu bởi sự vật đó hay không.)

4.18: Sada jnatas chittavrittayas tat-prabhoh purushasyaparinamitvat.
(Mọi biến động tâm trí luôn được Chân ngã nhận biết, bởi Chân ngã có bản chất ý thức thuần khiết bất biến.)

4.19: Na tat svabhasam drisyatvat.
(Tâm trí không thể tự chiếu rọi chính mình, bởi bản thân nó cũng chỉ là một đối tượng bị quan sát.)

4.20: Ekasamaye cobhayanavadharanam.
(Tâm trí không thể đồng thời vừa quan sát chính mình vừa quan sát thế giới bên ngoài trong cùng một khoảnh khắc.)

4.21: Chitta-antara-drishye buddhi-buddher ati-prasannah smriti-sankaras cha.
(Nếu giả định tâm thức này được quan sát bởi tâm thức khác nữa, chuỗi quan sát sẽ kéo dài vô tận, dẫn đến lẫn lộn ký ức.)

4.22: Chiter apratisankramayas tad-akarapattau chitta-samvedanam.
(Khi tâm thức phản chiếu được hình ảnh của Chân ngã thuần khiết, lúc ấy tâm trí mới thấu hiểu được chính bản ngã nội tại.)

4.23: Drashtr-drisyam uparaktam chittam sarvartham.
(Tâm trí khi bị tác động bởi cả Người quan sát và Đối tượng sẽ trở thành chiếc gương phản chiếu toàn diện mọi thứ.)

4.24: Tad asankhyeya-vasanabhir chitram api parartham samhatya-karitvat.
(Dù tâm trí được tô điểm bởi vô số khuynh hướng tiềm ẩn, nó vẫn hoạt động vì lợi ích của Chân ngã, vì nó là thể tổng hợp.)

4.25: Vishesha-darshina atma-bhava-bhavana-vinivrittih.
(Đối với người đã thấu triệt sự khác biệt tinh tế, mọi ảo tưởng và ham muốn về bản ngã hoàn toàn chấm dứt.)

4.26: Tada viveka-nimnam kaivalya-pragbharam cittam.
(Khi ấy, tâm trí nghiêng hẳn về Trí tuệ phân biệt và hướng thẳng đến trạng thái Giải thoát tuyệt đối.)

4.27: Tach-chidreshu pratyayantarebhyah samskaribhyah.
(Trong những khoảng hở đó, các dấu ấn phiền não cũ vẫn có thể trồi lên do ảnh hưởng của các ý niệm tiềm ẩn khác.)

4.28: Haasam esham kleshavad uktam.
(Cách thức loại bỏ những dấu ấn rớt lại này cũng tương tự như cách loại bỏ các phiền não đã đề cập.)

4.29: Prasamkhyane 'py akusidasya sarvatha viveka-khyater dharma-meghah samadhih.
(Khi xả ly ngay cả với trí tuệ uyên thâm nhất, Trí tuệ phân biệt đạt đỉnh cao, dẫn đến tầng định Dharma-megha Samadhi [Định mây pháp].)

4.30: Tatah klesha-karma-nivrittihi.
(Từ tầng định đó, mọi phiền não và nghiệp lực được gột sạch hoàn toàn và chấm dứt vĩnh viễn.)

4.31: Tada sarvavarana-mala-apetasya jnanasya anantyaj jneyam alpam.
(Khi lớp màn vô minh được rũ sạch, trí tuệ trở nên vô lượng vô biên, khiến những điều cần biết còn lại trở nên nhỏ bé.)

4.32: Tatah kritarthanam parinamakrama-samaptir gunanam.
(Lúc đó, ba phẩm tính tự nhiên hoàn thành sứ mệnh, chuỗi biến dịch thế giới hiện tượng chấm dứt đối với người đã giải thoát.)

4.33: Kshana-pratiyogi parinamapara-nirgrahya kramah samaptanam gunanam.
(Chuỗi trình tự biến dịch tương ứng với từng khoảnh khắc của các phẩm tính tự nhiên cũng khép lại hoàn toàn.)

4.34: Purushartha-shunya-gunanam pratiprasavah kaivalyam svarupa-pratishta va chiter shaktir iti.
(Kaivalyam là trạng thái khi các phẩm tính tự nhiên thu hồi trở lại cội nguồn, và Ý thức thuần khiết an trú vĩnh cửu trong bản chất đích thực của chính mình.)


Tran Liem
Tây Đô Academy - Trung tâm đào tạo HLV Yoga Cần Thơ

Address

Can Tho
900000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Yogi Luy Liêm - Yoga & Ayurveda posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share