15/09/2025
KHI BIỂN CẢ CẤT TIẾNG CA
🐳KHÁM PHÁ VỀ NGHỆ THUẬT BẢ TRẠO CÙNG LÁ ĐA LA ĐÀ!!🐳
🌊Xin chào bà con, hôm nay Lá Đa La Đà sẽ trở lại với loạt bài viết giúp mọi người hiểu rõ hơn về “Hát bảo trạo” - nguồn cảm hứng chính để chúng mình là nên game “Khi biển cả cất tiếng ca”!
🌊Trong phần cuối của series, hãy cùng tìm hiểu về nghi lễ đặc biệt "Hát chèo đưa linh" nhé!
🌊🌊🌊
Hát chèo đưa linh là hình thức Hát bả trạo với mục đích đưa tang, là khúc điếu ca dành cho tang lễ người đã khuất.
Lời hát trong Hò đưa linh là diễn tả sự thương tiếc của gia đình, con cháu trước sự ra đi của ông bà, cha mẹ. Sự cảm thông, chia sẻ của cộng đồng làng vạn trước sự mất mát của gia đình. Bên cạnh đó, còn có sự ghi nhận, báo cáo với hương linh người quá cố về lòng hiếu thảo, mong cho hương linh sớm được siêu thoát.
Do hình thức hát chèo đưa linh tương đối phổ biến, xuất hiện trải dài khắp miền Trung Việt Nam, nghi lễ mỗi nơi lại có ít nhiều sự khác biệt. Dù vậy, giá trị cốt lõi của Hò đưa linh và tinh thần của Hát bả trạo vẫn được thể hiện rõ trong các nghi lễ này ở bất cứ nơi nào.
🐳🐳🐳🐳🐳
Sau đây là một số trích dẫn để giúp các bạn hiểu rõ hơn về nghi lễ Hát chèo đưa linh! 🌊
🐳🐳
Một trong những nét văn hóa mang tính truyền thống của nhân dân ta là những tập tục dành cho người chết. Sự chia cắt vĩnh viễn giữa người sống với một người thân trong gia đình mất đi đã gây nên một nỗi đau đớn không gì lấp được. Thay bằng quan niệm xa cách vĩnh viễn, người ta tiễn đưa người chết về nơi “cực lạc”.
Quan niệm “Sống gửi thác về” không chỉ nói lên thế giới quan, mà còn cả nhân sinh quan của cha ông ta nữa. “Về” không đồng nghĩa với “mất”. Ngược lại, “về” là một sự ngưng nghỉ vững bền, ổn định. “Về” để sống tiếp một cuộc sống dài lâu và yên ổn hơn. Như thế, cái chết không chỉ đem đến buồn đau, mà còn mở ra cho mỗi con người cuộc sống mới vĩnh hằng.
Người ta yên tâm tiễn đưa người chết bằng một nghi lễ trang trọng, sầu não, nhưng không thảm khốc, bi ai, lại cũng không ngao ngán, tuyệt vọng.
“Sống dầu đèn, chết kèn trống” nêu lên quan niệm của cha ông, khẳng định khi sống con người không thể thiếu ánh sáng thì lúc chết con người không thể thiếu ca nhạc. Lúc vào đời là tiếng hát ru và khi lìa đời là điệu hò đưa tiễn.
Trong lễ tiễn đưa, tiếng khóc được thay bằng diễn xướng hát múa nhạc, mà từ lâu đời lễ tang không thể thiếu được là hoạt cảnh Hò Đưa linh. Dàn nhạc phụ họa có trống chiến, đàn nhị (cò), đàn hồ tiểu, kèn tiểu, mõ, thanh la nhỏ.
Hoạt cảnh được trình diễn tại nhà đám, khi sắp hạ huyệt, bao gồm các làn điệu hát bộ xen kẽ lí, hò, vè kết hợp với sự thay đổi đội hình của đội diễn viên.
Diễn viên cầm mái chèo, mặc xiêm trường, quần giáp (trang phục hát bộ), đầu chít khăn tang, đứng thành hai hàng song song bên quan tài đặt trong thuyền rồng, vừa hát, vừa làm động tác chèo thuyền, theo sự điều khiển của Tổng Lái, Tổng Mũi, Tổng thương (Tổng khoang). Khi tát nước, câu cá, cuốn buồm, cứu thuyền, trong dông tố..; động tác hình thể đều được cách điệu, ước lệ, theo phong cách nghệ thuật hát bộ.
Với lời con đưa tiễn mẹ, vẹn toàn chữ hiếu, thể hiện nỗi tiếc thương sâu thẳm; với lời chia tay bạn, bộc lộ lòng quí mến thắm thiết, nội dung của Hò Đưa linh đã phản ánh được một số nét đời sống và quan điểm của nhân dân ta, trong những mối liên hệ ràng buộc bè bạn, hay giữa các thành viên trong gia đình với nhau.
- Theo Trương Đình Quang, (NXB Văn Hóa Dân Tộc 2011) “Hát Bả Trạo - Hò Đưa Linh”
🐳🐳
Hò đưa linh là bài hát của Đội Chèo đưa linh cữu người qua đời ra nơi an táng. Lễ Cầu ngư lấy dùng cho hát Bả Trạo đưa cá Ông.
Theo tục lệ cư dân miền biển Sơn Trà - Đà Nẵng, người được phục vụ màn diễn xướng Hò đưa linh là các bậc cao niên, các lão ngư thượng thọ. Khi trong gia đình có người qua đời, con cháu ruớc bạn chèo về để chèo đưa linh cho người quá cố. Các bạn chèo thường là những người của đội hát chèo ông - cá voi, với tâm thức là làm việc nghĩa, nên không đòi hỏi giá cả.
Biên chế đội hát Hò đưa linh: ở Đà Nẵng khoảng 12 đến 16 người, được bố trí ở các vị trí của con thuyền đưa linh - thuyền đưa linh là thuyền rồng, làm bằng khung tre, giấy bìa và lá dừa, sơn màu xanh nuớc biển. Đứng mũi là tổng tiền - giữa thuyền là tổng khoang - nguời tát nước và canh thuyền trong đêm khuya; cuối thuyền là tổng lái - người chỉ huy bạn chèo chèo lái thuyền linh, hai bên mạn thuyền là các bạn chèo, còn gọi là trạo công hoặc con trạo.
Về trang phục: Tổng tiền mặc giống như kép hát tuồng vai tướng, tay cầm cặp sênh gỗ; tổng khoang đội nón, quần áo bà ba màu xanh nước biển, lưng đeo gàu tát nước màu đỏ, tay cầm cần câu có con cá gỗ đỏ; tổng lái quần xắn móng lợn, áo xanh nước biển, cầm chèo mái dài; các trạo công quần áo màu xanh, thắt lưng vải vàng, đầu đội nón dấu, chân quấn xà cạp, tay cầm mái chèo nhỏ, sơn hai màu trắng, đỏ. Tục lệ quy định trạo công phải là nam. Nhưng nay, ở một số vạn biển, trạo công lại là nữ, các em gái khoảng 14 - 15 tuổi. Cư dân biển Sơn Trà - Đà Nẵng giải thích trạo công là gái thường có tay chèo mềm mại hơn, hát hay hơn và trông xinh xắn, dễ coi. Khác với ở tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi trạo công là nam.
Ban nhạc đệm cho Hò đưa linh người quá cố là ban nhạc hiếu của đám tang. Để gọn nhẹ biên chế, khi phục vụ đám tang nào thì đội chèo phối hợp cùng ban nhạc của đám ấy để trình diễn. Sau đó, họ thù lao cho ban nhạc một khoản tiền theo thoả thuận trên tinh thần làm việc nghĩa.
Hát chèo đưa linh người quá cố gồm hai phần: hát trước linh cữu người chết, gọi là chèo hầu linh (thường diễn ra vào buổi tối và kéo dài cho đến tận khuya, có khi hết đêm) và hát trong lễ đưa tang từ nhà ra huyệt, gọi là hò đưa linh.
- Theo Văn Thu Bích, “Diễn xướng Hò đưa linh vùng biển Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”