28/09/2026
🇻🇳CUỘC ĐỜI CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG - NHỮNG DẤU ẤN CÒN MÃI CÙNG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA DÂN TỘC🇻🇳
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) đứng ở vị trí hàng đầu trong tầng lớp sĩ phu yêu nước. Cuộc đời Cụ là biểu tượng sáng ngời của tinh thần phụng sự Tổ quốc và sức mạnh đại đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”.
Để có thêm cơ sở thực tiễn cho hoạt động Duy Tân, năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp đi tìm hiểu một số tỉnh phía Nam, gặp gỡ các nhân sĩ trí thức, tích cực tuyên truyền, vận động Duy tân, chuẩn bị các cơ sở cần thiết để thành lập Công ty Liên Thành và trường Dục Thanh; vận động, thiết lập cơ sở kinh doanh lấy tên “Thương học công ty” với nhiều chi nhánh để liên lạc những người yêu nước và tạo nguồn tài chính ủng hộ phong trào Đông du của Phan Bội Châu. Nhưng vì thiếu kinh nghiệm tổ chức, công ty thất bại, Huỳnh Thúc Kháng chuyển sang chăm lo các lớp học và tham gia giảng dạy chính trị, văn hóa, khuấy động tinh thần Duy tân… Đồng thời, vận động nhân dân thay đổi lối sống, mặc âu phục, cắt tóc ngắn, cùng các thân sĩ chung sức lập các hội buôn, hội nông, hội trồng quế, xây trường học, thư viện... Tinh thần Duy Tân đã kích hoạt phong trào chống thuế năm 1908 bùng nổ khắp miền Trung. Thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào. Tháng 2/1908, Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp bắt, đến tháng 8 bị đày ra Côn Đảo, đến năm 1921 mới được trả tự do, nhưng bị quản thúc tại gia (ở làng Thạnh Bình).
Sau khi ra tù Cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục chọn con đường đấu tranh công khai. Năm 1926, Cụ đảm nhiệm vai trò Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ đã thẳng thắn sử dụng diễn đàn này để đòi hỏi quyền lợi dân sinh, dân chủ. Nhận ra tính chất bù nhìn của cơ quan này, Cụ kiên quyết từ chức vào năm 1928.
Thấy rõ được sức mạnh của báo chí trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân, Huỳnh Thúc Kháng đã tập trung sáng tác văn thơ, viết báo, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Tiếng dân, đây là tờ báo đầu tiên xuất bản bằng tiếng Việt ở Trung Kỳ. Gần 16 năm tồn tại (1927-1943), Báo Tiếng dân đã góp phần quan trọng tuyên truyền, giáo dục quần chúng tích cực đấu tranh chống thực dân, phong kiến; đòi quyền lợi cho dân, cho nước; làm cho chính quyền thực dân phải dè chừng, không dám ngang ngược ức hiếp dân lành. Đồng thời, có ý nghĩa tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân theo con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc.
Ngay sau thành công của Cách mạng tháng Tám (1945), trân trọng tài năng, đức độ của cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia Chính phủ cách mạng, đảm nhiệm nhiều trọng trách. Sự hiện diện của Cụ trong nội các Chính phủ mang ý nghĩa biểu tượng to lớn, đập tan luận điệu chia rẽ của các thế lực thù địch. Đặc biệt, với tư cách là sáng lập viên kiêm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt), Cụ đã phát huy xuất sắc vai trò hạt nhân quy tụ các hiền tài, sĩ phu, trí thức và mọi tầng lớp nhân dân, tạo lập nền tảng hậu thuẫn chính trị vững chắc cho Chính phủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Cụ Huỳnh Thúc Kháng được tin tưởng ủy thác giữ chức vụ Quyền Chủ tịch nước. Đối mặt với tình thế chính trị vô cùng phức tạp bởi thù trong giặc ngoài, Cụ đã vận dụng triệt để và linh hoạt phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Cụ lãnh đạo bộ máy hành chính nhà nước giữ vững sự ổn định, xử lý tinh tế các quan hệ đối nội và đối ngoại. Cụ Huỳnh Thúc Kháng ký nhiều sắc lệnh quan trọng của đất nước; vừa mềm dẻo, linh hoạt nhưng cũng rất cương quyết xử lý triệt để các lực lượng chống phá cách mạng, đặc biệt là xử lý dứt khoát đối với âm mưu đảo chính của bọn Quốc dân đảng qua vụ án phố Ôn Như Hầu (tháng 7/1946).
Cuối năm 1946, khi nguy cơ chiến tranh toàn quốc cận kề, Cụ nhận nhiệm vụ Đặc phái viên Chính phủ đi kinh lý khu vực miền Trung để củng cố lực lượng kháng chiến. Văn kiện "Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư" do Cụ chấp bút trong giai đoạn này đã trở thành ngọn lửa thổi bùng ý chí kiên cường và niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Chính phủ.
Ngày 21/4/1947, trên đường thực hiện nhiệm vụ tại Quảng Ngãi, Cụ lâm bệnh nặng và trút hơi thở cuối cùng. Trước khi qua đời, Cụ vẫn để lại lời hiệu triệu toàn dân đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Cuộc đời của Cụ Huỳnh Thúc Kháng là minh chứng sinh động cho nhân cách của một sĩ phu yêu nước chân chính: kiên trung trước ngục tù, mềm dẻo nhưng quyết đoán trên chính trường, và trọn vẹn tình yêu đất nước đến giây phút cuối cùng.
Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-2026), chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đối với cách mạng Việt Nam; giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng./.