07/12/2026
𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃 #71
BA CÂU CHUYỆN MA CỦA BÀ TƯ.
[Nội dung hư cấu, lấy cảm hứng từ truyện kể dân gian và truyền thuyết đô thị, chỉ nhằm mục đích giải trí. Tác phẩm không khẳng định các hiện tượng siêu nhiên là có thật và không cổ súy mê tín dị đoan.]
Cái nắng tháng Bảy ở xứ biển Bình Thuận nó gắt như nung như nấu. Giữa ban trưa, đường đất đỏ sỏi đá từ ngoài lộ đâm vô xóm chài vắng hiu vắng hắt, tịnh không một bóng người, chỉ có tiếng ve trên mấy hàng phi lao rì rào reo lên từng hồi nghe nhức cả tai.
Nắng rọi xuống mặt đường bac hơi hầm hập, làm cảnh vật cứ nhòe đi, méo mó. Cái tầm này, người lớn lo đi biển chưa về hoặc đang kê lưng ngủ say trong nhà, vạn vật im lìm tới mức đáng sợ. Vậy mà ở cái quán tạp hóa nhỏ xíu của bà Tư, nằm thoi loi dựa sát sạt vô cái vách đồi toàn đá hộc khổng lồ, lại có tiếng lao xao của đám con nít trong làng.
Căn nhà của bà Tư lạ lùng lắm. Phía trước gá tạm bằng vách gỗ điều hiu, bày mấy hũ kẹo ú, kẹo mút bám bụi với vài chai nước xá xị màu đỏ quạch. Nhưng ai đi ngang dòm vô cũng thấy rợn rợn, vì cái gian nhà sau nó đâm thọc sâu hoắm vô trong một cái hang đá tự nhiên, tối om và lạnh ngắt, phả ra cái mùi ẩm mốc xen lẫn mùi tanh tao của biển. Trước sân, cây xoài cổ thụ tược lá sum suê, đổ một vùng bóng râm đen kịt.
Đám trẻ trong làng năm đó chừng mười, mười hai tuổi, trưa nào cũng trốn nhà lội bộ cát nóng tới đây. Đứa thì cầm năm ba trăm đồng bạc lẻ mua cây cà rem, đứa thì ngồi không, nhưng mục đích chính là để nghe bà Tư kể chuyện ma. Bà Tư già lắm rồi, tóc bạc phơ như cước, mà lạ cái là da dẻ bà dưới cái nắng trưa này nhìn nó cứ hồng hào, căng bóng một cách quái đản. Bà ngồi trên cái ghế mây cũ kỹ, tay cầm cây quạt nan quạt phành phạch, giọng bà trầm khàn, cứ thều thào mà đứa nào đứa nấy nghe xong cũng nổi hết g*i ốc cục.
Bà hay kể mấy chuyện đời xưa đời xửa, răn đe tụi con nít không được chơi ma lon ngoài nghĩa địa, không được núp bụi tre bụi chuối lúc chạng vạng, cũng đừng có mớ rớ nhặt đồ bậy bạ ngoài đường. Chuyện của bà nghe cuốn ác chiến, nhưng nếu có đứa nào tinh ý chút xíu sẽ nhận ra, trong mỗi câu chuyện bà kể đều có một người trong làng từng mất tích, rồi lúc được tìm thấy thì chẳng còn là chính mình nữa. Đám nhỏ nghe xong mặt cắt không còn giọt máu, ôm nhau run cầm cập, vậy mà hôm sau vẫn cứ ghiền, cứ rủ nhau mò tới cái bóng cây xoài âm u đó mà ngồi.
Trong đám trẻ ngồi co rúm dưới bóng cây xoài trưa hôm đó, có thằng Long là mười hai tuổi, tướng tá lanh lợi mà cặp mắt nó sáng rực, hay tò mò dữ lắm. Nó không có sợ giống mấy đứa khác, ngược lại càng nghe càng khoái.
Bà Tư ngậm miếng trầu chóp chép, đôi mắt ti hí đục ngầu quét qua một lượt mấy đứa nhỏ rồi bắt đầu hạ giọng. Bà kể về cái hồi khoảng năm bảy mấy, ở cái làng chài này có thằng lỏi tên Hùng, mười tuổi, tánh khí ngỗ nghịch y gan thằng Long bây giờ. Đêm đó trời không trăng không sao, thằng Hùng thách thức đám bạn đem cái lon sữa bò ra nghĩa địa của lính sau lưng đồi cát để chơi ma lon.
Nó gõ cây cọc cạch vô cái lon, miệng đọc lầm rầm mấy câu chú gọi hồn. Gió biển thổi ù ù, rồi tự nhiên cái lon nó tự động lắc lư, rồi nó lăn rột rột dí theo bén gót thằng Hùng. Đám bạn kinh hồn bạt vía cắm đầu chạy miết về xóm, bỏ mặc thằng Hùng ở lại.
Sáng ngày hôm sau, cả làng nháo nhào đi tìm. Tới tận chiều bét, người ta mới thấy thằng Hùng nằm chúi nhủi trong một bụi tre g*i rậm rạp, chỗ mà người thường không cách nào chui lọt vô được. Bà Tư khòm lưng xuống, đưa cái khuôn mặt căng bóng một cách quái dị sát vô mặt thằng Long, thầm thì: “Tụi bay biết sao không? Lúc kéo nó ra, mình mẩy nó sưng húp sưng súp, tím ngắt tím tái như bị ai bóp nghẹt. Khí huyết nó suy kiệt, người ta nói nó bị ma giấu, bị quỷ quật..”.
Mấy đứa con nít nghe tới đó rú lên một tiếng, ôm đầu chạy tản mát về nhà vì sợ. Chỉ có mình thằng Long là đứng nán lại, nhìn cái bóng lưng lom khom của bà Tư đang lủi thủi đi vô cái hang đá tối om sau nhà.
Tối đó, bên mâm cơm nghèo làng chài, thằng Long vừa lùa cơm vừa đem chuyện thằng Hùng chơi ma lon ra kể cho ông nội nghe. Ông nội đang húp hớp nước chè xanh, tự nhiên tay ông khựng lại giữa chừng.
“Ông có biết đấy, hồi đó ông có đi tìm thằng Hùng, lúc đó ghê lắm, người nó tím bầm mắt xám xịt đi cả, chả mấy tháng sau thì nó bệnh chết, phải không bà nó” Ông nội hỏi với sang bà.
“Ừ vậy đấy, lúc đó ông Trường bồng nó đi quân y, uống thuốc Mỹ mà cũng chẳng hết được bệnh. Về gọi thầy lang cúng cho thì thầy nói sinh lực nó đã suy kiệt, chẳng bao lâu sau thì chết.”
Thằng Long nghe ông bà nói vậy, trong lòng nó không có sợ mà tự nhiên thấy kích thích ác chiến. Nó không ngờ mấy câu chuyện bà già kể lại có thật. Ngày hôm sau, thay vì đi chơi bắn bi với đám bạn, thằng Long lội bộ một mình quay lại quán bà Tư. Nó giả đò cầm cây chổi chà phụ bà già quét dọn mấy cái lá xoài rụng đầy sân, cốt là để được nghe bà kể tiếp câu chuyện nữa.
Bà Tư ngồi trên ghế mây, tay bỏm bẻm nhai trầu, đôi mắt ti hí dục ngầu dòm thằng Long chằm chằm. Bà cười, hàm răng đen nhánh loe loét vệt nước trầu:
“Chu cha, nay gan dữ bây? Đám thằng lỏi kia chạy mất dép mà mày còn mò tới đây phụ tao quét lá hen?”
Thằng Long cười hì hì, quẹt mồ hôi trên trán:
“Con phụ bà chút xíu, chớ ở nhà ngủ trưa chán lắm bà ơi. Mà bà Tư... qua bà kể chuyện thằng Hùng chơi ma lon nghe đã ghê, nay bà kể chuyện khác cho con nghe đi.”
Bà Tư không nói không rằng, đứng dậy lủi thủi đi vô trong. Một lát sau, bà bưng ra một ly nước rễ tranh mát lạnh, đặt cái cộc xuống bàn gỗ. Bà ngoắc tay kêu thằng Long lại gần, giọng hạ thấp xuống, nghe thều thào y như tiếng gió lùa qua khe đá:
“Mày thích nghe thì tao kể. Chuyện này tao kể về con Hồng, cái hồi năm tám mươi mấy á, nó là hoa khôi của xóm chài này chứ chẳng chơi. Con gái mười tám, đôi mươi, da dẻ hồng hào, tóc dài tới gót.”
Bà Tư nhấp ngụm nước, mắt dòm bâng quơ ra phía vách đồi đá hộc sau nhà:
“Hồi đó, con Hồng nó quen thằng Thành bên xóm trên. Đêm rằm tháng Giêng, hai đứa dắt nhau lên đồi đá sau làng hò hẹn. Thằng Thành kể lại, lúc hai đứa đang ngồi trên tảng đá hóng gió biển, tự nhiên có luồng gió độc thổi qua lạnh ngắt, con Hồng đờ người ra rồi đứng dậy đi tuốt vô bụi rậm. Thằng Thành kêu khản cả cổ, chạy theo nắm tay nó lại mà không kịp, nó biến mất tiêu trong bóng tối. Thằng nhỏ hoảng hồn chạy về báo làng xóm, người ta nghi thằng Thành làm bậy rồi giấu xác con nhỏ nên bắt trói nó lại.”
Bà Tư khựng lại, đưa bàn tay gầy guộc, móng tay dài cào cào mấy nốt sần trên da kêu gột gạt.
“Ba ngày sau, tự nhiên con Hồng tự đi bộ về làng. Lúc đó nó không mặc gì cả, Mà bây biết sao không? Lúc nó về, nhìn không ra con người nữa. Da thịt nó bủng beo, xám xịt như người chết trôi, cặp mắt vô hồn, thâm quầng đen kịt. Ai hỏi gì nó cũng không nói, cứ ngồi ủ rũ một góc giường, người gầy rộc đi từng giờ y như cái xác không hồn.
Được ba bữa, đêm đó nó lặng lẽ lấy sợi dây thừng, rồi đấy….”
Bà Tư bỏ lưng lửng câu chuyện làm thằng Long phát sốt lên. Giờ mà có đám bạn chắc tụi nó đã nhao nhao lên rồi.
“Sao nữa bà Tư, bà kể thì kể hết đi chớ!”
Bà Tư quở “Thằng cha mày, con nít nghe thêm làm gì, con Hồng chết lâu rồi cũng hơn mười mấy năm rồi đó, mộ nó sau đồi đấy ra đấy mà hỏi”
Bà Tư vừa dứt lời, thằng Long im lặng, phần thì sợ phần thì nó cứ ngắm nghía cái miếng vải bịt bình rượu, bà già này lạ, vải bình rượu màu hồng lại còn hình con chuột mích ki chả giống ai.
Tối đó, thằng Long đứng ngoài sân canh lúc ông nội đang ngồi chẻ lạt, nó lân la lại gần rồi hỏi nhỏ:
“Ông nội ơi... hồi năm tám mươi, trong làng mình có chị nào tên Hồng đi chơi trên đồi đá rồi mất tích không ông?”
“Mày lại đi nghe chuyện nữa à?” ông Nội hỏi có phần hơi giận nhưng lại thôi.
“Ừ thì có, dân đây người lớn ai cũng biết hết nên tụi mày biết cũng thường thôi, con bé đó có họ với mẹ mày ấy, tội nghiệp”
“Nhưng mà mày đi nghe chuyện ở đâu?, mấy cái này ông nói nghe, không có nên tò mò đâu, làng mình cứ độ năm mười năm lại có chuyện này chuyện kia thảm lắm, xưa nay nó vậy rồi, con nít yên thân mà sống chứ tò mò quá chết đấy mày”
Ông chỉ nói thế thôi, không giải thích gì thêm, thằng Long cũng không dám hỏi..chắc nó cũng nghĩ chuyện này mà hỏi tiếp có khi bị ăn đòn thật.
Nó lỉnh lẹ vào trong nhà, mất công ông cấm nó đi nghe chuyện nữa thì phiền.
Nhịn hẳn hai ngày trời không dám bén mảng qua nhà bà Tư vì sợ ông nội bắt gặp ăn đòn, cái tánh tò mò trong lòng thằng Long nó cứ bức bai, ngứa ngáy chịu không thấu. Đến trưa ngày thứ năm, canh lúc ông nội ra bờ mương dẫn nước vô ruộng muối, ba thì đi kéo lưới chưa về, nó liền lỉnh lẹ ra cửa sau.
Bình Thuận cái tầm giữa trưa nắng chang chang như đổ lửa xuống đầu, cát hầm hập táp vô mấy kẽ chân rát rạt. Thay vì đi thẳng đường lộ vô quán bà Tư, thằng Long lại rẽ ngang qua lối đồi cát dẫn vô nghĩa trang của làng. Nó nhớ tới lời bà Tư quở bữa trước: “Mộ nó sau đồi đấy, ra đấy mà hỏi!”
Nghĩa trang xóm chài trưa vắng hiu vắng hắt, chỉ có tiếng gió biển ù ù thổi qua mấy bụi cây xương rồng, làm mấy vòng hoa nhựa cũ kỹ bạc màu kêu sột soạt. Đám bạn trong làng ai cũng biết ở khu nghĩa trang này có một ngôi mộ ở hàng ba kỳ lạ lắm.
Đó là mộ của một cô gái trẻ, nghe người lớn đồn hồi sống cô đẹp ghê lắm, nhưng vì đẹp quá nên bị người ta quỷ nguyền rủa. Đáng sợ nhứt là cái tên trên tấm bia xi măng bị ai đó lấy dao găm cào nát bấy, gạch xóa nham nhở không tài nào đọc rõ chữ gì.
Con nít đi nhặt pháo mồi trong đây đứa nào đi ngang cũng cắm đầu chạy, riêng thằng Long bữa nay gan cùng mình, nó đoán mười mươi đây chính là mộ của cô Hồng.
Nó lén lén bước tới gần, tim đập thình thịch như trống chầu. Dưới cái nắng gắt rọi thẳng vô tấm bia, thằng Long nhìn kỹ vô bức ảnh thờ trắng đen đã hoen ố vì sương gió. Trên hình là một người con gái có mái tóc dài, khuôn mặt thanh tú, đôi mắt lá liễu ngước nhìn thẳng ra ngoài. Đúng là đẹp thiệt, cái nét đẹp sắc sảo làm thằng nhỏ mười hai tuổi nhìn mà ngẩn cả người.
Nhưng dòm kỹ thêm chừng vài giây, da gà da vịt trên người thằng Long tự nhiên nổi lên cục cục. Nó thấy cái áo có họa tiết quen lắm mà nó chẳng nhớ ra thế nào, nhưng hình như nó thấy đâu rồi.
Chưa kịp định thần, tự nhiên một luồng khí lạnh ngắt từ dưới lòng đất xộc thẳng qua lòng bàn chân, chạy dọc theo sống lưng lên tới đỉnh đầu thằng nhỏ. Giữa cái nắng hừng hực ban mươi độ mà người thằng Long run bần bật, mặt mày xây xẩm, mồ hôi hột tuôn ra như tắm. Kinh hoàng quá, nó không dám nhìn thêm một giây nào nữa, liền quay đầu ba chân ban cẳng cắm đầu chạy thục mạng ra khỏi khu nghĩa địa, nhắm thẳng hướng quán bà Tư mà lao tới như vịt bị chó đuổi.
Chạy một hơi tới trước sân cây xoài cổ thụ, thằng Long thở dốc hộc tốc, tay chân còn run lẩy bẩy. Bà Tư lúc này đang ngồi trên ghế mây, tay vẫn cầm cây quạt nan quạt phành phạch, cặp mắt ti hí đục ngầu nhìn xoáy vô cái bộ dạng thảm hại của thằng nhỏ. Bà cười hơ hớ, để lộ hàm răng đen nhánh loe loét vệt nước trầu:
Chu cha, nay đi đâu mà thở như trâu thở vậy con lỏi? Có phải mới đi coi cái gì ngoài đồi cát không?
Thằng Long đứng dựa lưng vô gốc xoài cho đỡ run, nó giả đò lảng chuyện:
Đâu có bà... tại chó dí chớ bộ. Bà Tư... nay bà kể tiếp chuyện khác cho con nghe đi.
Bà Tư nhổ cái "bẹt" vệt nước trầu đỏ quạch ra gốc cây xoài, cặp mắt ti hí nheo lại dòm thằng Long, cười khẩy một tiếng rõ dài như thể biết tỏng thằng nhỏ đang nói dối. Nhưng bà không bắt bẻ, chỉ thủ thỉ bằng cái giọng trầm khàn, đều đều:
“Chó dí mà mặt mày cắt không còn giọt máu. Thôi ngồi xuống đó đi, tao kể cho nghe chuyện này. Bà lại lủi thủi đi vào rồi quay trở ra mới một ly rễ tranh mát.
Chuyện này lâu lắm rồi hồi đó có thằng lỏi xóm dưới tên Minh. Thằng này tánh nó hay đi mớ rớ, dọc bờ biển hễ thấy cái gì lạ là lượm lặt đem về.
Bà Tư đưa bàn tay gầy guộc lên vuốt lại mấy lọn tóc bạc phơ, giọng rùng rợn hơn:
“Trưa bữa đó, trời cũng nắng gắt y gan bữa nay nè. Thằng Minh đi dọc bãi cát chỗ mấy chiếc thuyền thúng neo đậu, tự nhiên nó thấy một cái túi vải cũ rách, quấn chặt bằng mấy sợi dây chỉ ngũ sắc nổi lềnh bềnh trên mặt nước sát bờ. Bên trong cái túi đó chẳng có gì cao siêu đâu con, chỉ có vài ba món đồ lặt vặt của con nít quấn rối với một nắm tóc rối đen sì. Thằng Minh hí hửng giấu cái túi vô bọc quần đem về nhà. Ai dè đâu, ngay đêm đó, nó mất tích biệt tăm biệt tích.”
Thằng Long ngồi trên bậc thềm gỗ, nín thở, hai mắt mở to chăm chú nghe bà già kể tiếp.
“Cả cái làng chài này lại đi tìm nó suốt ba ngày ba đêm không thấy bóng dáng. Đến sáng ngày thứ tư, mấy ông ngư dân đi bủa lưới sớm mới hoảng hồn phát hiện ra nó đang nổi lềnh bềnh giữa mấy chiếc thuyền thúng ngoài biển. Lạ một điều, người nó lạnh ngắt như cục đá, da dẻ tái mét mà tim vẫn còn đập thoi thóp. Lúc vớt lên, cái túi vải đó vẫn còn cột chặt cứng trong thắt lưng quần nó, cạy thế nào cũng không ra. Người ta phải lấy kéo cắt phăng sợi dây ngũ sắc thì cái túi mới rơi ra được.
“Thế nó còn sống không bà?”
Nghe câu hỏi của thằng Long, bà Tư không trả lời, chỉ đứng yên đó dòm nó bằng cặp mắt ti hí lạnh ngắt. Thằng nhỏ sợ quá, không dám nán lại thêm một giây nào, bật dậy rồi phóng thẳng ra lộ, cắm đầu cắm cổ chạy về hướng xóm chài.
Trưa vắng hắt vắng hiu, cát nóng táp lên hai kẽ chân rát rạt. Lúc chạy ngang qua khúc quanh đầu làng, chỗ có cây bồ đề già cạnh đình cá ông, thằng Long giật bắn mình khi từ trong lùm cây, một ông gàn dở đầu tóc bù xù, quần áo rách rưới nhảy bổ ra. Ông ta trợn ngược hai con mắt, miệng ngoác ra cười sằng sặc rồi quơ quào khúc củi khô, cắm đầu dí theo bén gót thằng Long. Thằng nhỏ hồn xiêu phách lạc, ba chân ban cẳng chạy thục mạng về tới sân nhà.
“Ba ơi cứu con với!!” nó vừa chạy vừa khóc thét!
Nghe tiếng con trai la oai oái, ba Long đang ngồi vá lưới trong hiên liền vứt cây kim xuống, chộp lấy cái đòn gánh lao ra sân. Vừa thấy bóng dáng ba Long, ông gàn dở đang định xông vào bỗng khựng lại.
Hai con mắt trợn trừng của ông ta tự nhiên dịu xuống, rồi không hiểu sao, ông ta sụp xuống đất, ôm mặt khóc lóc thảm thiết, tiếng khóc nghẹn ngào như một đứa nít chịu uất ức. Đoạn, ông ta đứng phắt dậy, vừa khóc vừa cắm đầu chạy biến vào lùm cây bụi rậm. Ba Long nhìn theo bóng lưng gầy gộc kia, khẽ thở dài một tiếng đầy xót xa rồi quay sang đỡ con trai vào nhà.
Mọi chuyện cứ thế trôi qua cho đến nửa đêm. Tiếng sóng biển ngoài khơi xa vọng về rì rào, hòa lẫn tiếng gió rít qua khe cửa gỗ. Thằng Long nằm trên giường cạnh ba nó, mắt cứ ráo hoảnh, nhìn trân trân lên mái nhà. Nghĩ ngợi một hồi chịu không thấu, nó mới xoay người sang, khều nhẹ vai ba rồi thì thầm kể lại câu chuyện thứ ba mà ban trưa bà Tư đã kể: chuyện về một thằng nhóc ngày xưa nhặt được cái túi vải lạ quấn chỉ ngũ sắc ngoài bãi thuyền thúng, mất tích suốt ba ngày rồi được tìm thấy giữa biển trong tình trạng thoi thóp. Nhưng khi Long hỏi thằng nhóc ấy còn sống hay không, bà Tư lại không chịu kể tiếp.
Nghe con trai kể xong, bóng tối trong căn buồng như đặc quánh lại. Ba Long im lặng hồi lâu, tiếng thở dài trĩu nặng vang lên giữa đêm vắng. Ba trở mình, giọng trầm xuống, mang theo một nỗi u uất từ quá khứ:
Thằng nhóc nhặt cái túi vải năm đó... chính là ông gàn dở đầu làng trưa nay dí con đó. Tên thiệt của ổng là Minh, hồi nhỏ là bạn thân nối khố, chơi chung tắm mưa với ba chứ ai. Hồi đó chú Minh lanh lợi, học giỏi nhứt cái xóm chài này. Sau cái đợt mất tích ngoài bãi biển, lúc dân làng vớt lên thì hồn phách bay mất tiêu, người ngợm cứ teo tóp, sinh khí suy kiệt rồi hóa khùng luôn tới tận giờ…
Lời ba nói như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt thằng Long giữa đêm thanh vắng. Ruột gan nó thắt lại, da gà nổi lên cục cục.
Đêm đó, thằng Long thức trắng, không tài nào chợp mắt nổi. Cứ nhắm mắt lại là hình ảnh ông gàn, chị Hồng, miếng vải bịt bình rượu màu hồng hình chuột Mickey, lại hiện ra mồn một. Ba câu chuyện ma bà Tư kể giữa ban trưa, hóa ra đều bắt nguồn từ những người từng sống trong làng.
Cái suy nghĩ non nớt của một đứa con nít mười hai tuổi đầu bắt đầu đưa thằng Long vào một cơn say mê quái đản. Sự sợ hãi ban đầu bỗng chốc bị cái máu tò mò, liều lĩnh nuốt chửng. Nằm trằn trọc trên phản gỗ, bộ óc nhạy bén của nó tự xâu chuỗi mọi thứ lại có điều gì đó là lùng lắm, bà Tư ấy cứ như biết mọi thứ vậy, đầu óc nó nhớ ra rõ cái áo trong bức ảnh thờ nó đã thấy ở đâu rồi, mà nó không dám nhận bởi cái hoa văn chuột mích ki đấy y hệt cái tấm vải bọc bình rượu của bà Tư.
Ngay sáng hôm sau, Long lén đi gom hết đám bạn trong xóm, mặt mày nghiêm trọng rủ tụi nó làm một buổi "lấy lời khai" bà Tư như trên phim hình sự. Nhưng vừa nghe tới ba chữ "quán bà Tư", đứa nào đứa nấy mặt cắt không còn giọt máu, xua tay từ chối nguầy nguậy rồi giải tán sạch bách. Duy chỉ có thằng Hào, một thằng lỏi mười tuổi xóm dưới, tánh khí cũng ngỗ nghịch và khoái làm đuôi bám theo thằng Long, là dám nghếch mặt lên bảo: "Anh Long đi thì em đi! Con nít xóm này nhát cá cám chớ em hổng có sợ!".
Thế là hai thằng nhóc lội bộ cát nóng mò tới quán vách đồi giữa cái tầm đứng bóng. Nhưng buổi "lấy lời khai" mà thằng Long tưởng tượng ra đã hoàn toàn sụp đổ ngay khi tụi nó bước vào vùng bóng râm đen kịt của cây xoài cổ thụ.
Bà Tư vẫn ngồi trên chiếc ghế mây cũ kỹ, nhưng trưa nay bà không quạt. Đôi mắt ti hí đục ngầu của bà nhìn chăm chằm vào hai đứa ngay từ đầu ngõ, như thể đã đợi tụi nó từ kiếp nào. Không khí trong quán lạnh ngắt, phả ra mùi ẩm mốc sâu hoắm từ cái hang đá sau nhà, át cả cái nắng gắt ngoài kia. Thằng Long nuốt nước miếng ực một cái, cố lấy giọng người lớn để chất vấn:
Bà Tư... mấy câu chuyện bà kể... sao chuyện nào nó cũng có thật vậy? Có phải... có phải bà biết trước chuyện tụi nó bị bắt đi không?
Bà Tư không trả lời ngay. Hay có lẽ bà thấy buồn cười trước câu hỏi ngây ngô của hai thằng nhóc. Bà chậm rãi đưa bàn tay gầy guộc như cành củi khô lên cánh tay, bắt đầu cào gột gạt vào mấy nốt sần mụn ghẻ trên da. Tiếng móng tay miết vào da thịt nghe ghê rợn, bà cào mạnh đến nỗi lớp da bóng quái dị bật ra, máu đỏ thẫm rỉ ra loe loét mà mặt bà không một chút biến sắc. Một áp lực vô hình từ bà già gần đất xa trời bỗng chốc đè nặng lên hai đứa nhỏ. Bà nhoẻn miệng cười, hàm răng đen nhánh loe loét vệt nước trầu châm biếm:
Chu cha, nay thằng lỏi con làm quan tòa đi tra án tao nữa hen? Mày hỏi sao mấy câu chuyện này có thật à? Thì tao là người thấy đó, tao sống ở đây đủ lâu để thấy đủ thứ chuyện của cái làng này.
Giọng bà Tư bỗng hạ xuống thấp lè tè, thều thào nhưng rõ mồn một từng chữ rít qua kẽ răng đen:
Mày nghĩ tao chỉ ngồi coi thôi sao Long? Tao cũng cần ăn nữa..mà ở đây đầy rẫy những đứa trẻ tò mò, thách thức hay liều lĩnh đứa nào đi quá giới hạn thì ắt chúng nó phải trả giá thôi...
Câu nói ấy như một tia sét đánh ngang tai thằng Long. Cái ảo tưởng làm thám tử của nó tan tành mây khói. Nó bủn rủn tay chân, nhận ra một sự thật kinh hoàng: Bà già này không phải chỉ là người chứng kiến. Bà ta chính là thứ đã đứng sau tất cả! Bà ta chính là thứ quỷ dữ đã âm thầm rút cạn sinh lực của những người trong làng suốt mấy chục năm qua!
Ngay lúc đó, không khí xung quanh đột ngột xoay chuyển quái dị. Giữa ban trưa nắng chang chang, một khói mây đen kịt từ đâu ùn ùn kéo tới nuốt chửng ánh mặt trời, trời đất tối sầm lại như chạng vạng. Gió biển bỗng thổi tới đùng đùng, rít lên từng hồi điên cuồng qua các khe đá hộc khổng lồ, làm mấy hũ kẹo ú trên kệ rung lên bần bật, kêu lách cách. Cây xoài cổ thụ quật cành sào xạc như muốn đổ ụp xuống. Bà Tư vẫn ngồi đó, máu tươi trên tay dính đầy vào tà áo, nụ cười ngoác rộng tận mang tai nhìn xoáy vào tụi nó.
Tụi trẻ lúc nào cũng đầy sinh lực, lại còn ngây thơ nữa… Thời nào cũng có vài đứa tò mò tự dắt xác tới đây như hai đứa bây!
“Chạy! Hào ơi, chạy mày ơi!” Thằng Long hét lên thất thanh, mặt mày không còn giọt máu.
Hai thằng nhóc ba chân bốn cẳng, quăng cả dép, cắm đầu phóng ngược theo con đường mòn về phía xóm trong tiếng gió gào rú rượt đuổi sau lưng. Trời bất ngờ đổ mưa, những hạt nước nặng trĩu quất xuống mỗi lúc một dày, chẳng mấy chốc phủ trắng cả con đường.
Long ngoái đầu nhìn lại thì bóng dáng thằng Hào đã biến mất tự lúc nào. Nó chỉ kịp nghe vẳng đâu đó một tiếng “Anh Long!” rồi âm thanh ấy bị tiếng gió dữ nuốt chửng.
Nước mưa tạt vào mắt, vào mũi khiến Long ngạt thở. Nó cắm đầu chạy thêm được vài bước thì trước mắt bỗng tối sầm, hai chân khuỵu xuống bên rìa nghĩa địa rồi không còn biết gì nữa.
Thằng Long bừng tỉnh, ngồi bật dậy trên phản gỗ. Mồ hôi hột tuôn ra ướt đẫm cả áo, tim nó vẫn còn đập thình thịch như đánh trống trong lồng ngực. Mùi lá xông và thuốc đắp ng*i ngái phảng phất trong căn buồng, ngoài hiên vẳng lại tiếng người lớn nói chuyện khe khẽ. Nó ngơ ngác đảo mắt nhìn quanh, biết mình đã không còn ở quán bà Tư nữa. Ngoài trời, tiếng sóng biển đêm vẫn đánh vào bờ rì rào. Long đưa tay vuốt ngực, tự trấn an mình: "Là mơ... chắc chắn là một giấc mơ thôi. Làm gì có chuyện mây đen kéo tới giữa trưa". Nó cố ngủ tiếp, nhưng cái cảm giác lạnh ngắt và mùi máu tanh tao từ cánh tay ghẻ lở của bà Tư vẫn bám riết lấy tâm trí nó, chân thật đến rùng mình.
Đến sáng, khi nghe người lớn kể lại, nó mới biết mình đã mê man suốt bốn ngày. Lúc người ta tìm thấy Long nằm bất tỉnh bên rìa nghĩa địa, ai cũng tưởng thằng Hào đã chạy về trước. Mãi đến chiều tối, khi gia đình Hào tá hỏa đi tìm mà vẫn không thấy bóng dáng đâu, cả làng mới biết thằng nhỏ đã mất tích.
Từ đó, Long không cần phải qua quán vách đồi nữa, nó vẫn được nghe câu chuyện thứ tư. Một câu chuyện không phát ra từ giọng thều thào của bà già nhai trầu, mà từ tiếng khóc rấm rứt và những lời bàn tán xôn xao của người lớn khắp xóm chài.
Thằng Hào xóm dưới mất tích rồi.
Nghe người ta đồn, đúng chiều hai đứa chạy khỏi quán bà Tư, trời đổ mưa giông tầm tã. Có người còn thấy thằng Hào lủi thủi đi một mình lên đỉnh đồi đá hộc sau làng, mắt nhìn trân trân như bị ai dẫn đường, rồi trượt chân té từ trên cao xuống thẳng vách biển sâu. Mấy ngày nay, cả làng bủa ghe thúng đi rà, nhưng vách đá quá hiểm, sóng lại mạnh nên chẳng ai tiếp cận được
Ở ngay hỏm đá ngầm hiểm hóc nhất, nơi nước biển sâu hoắm và lạnh ngắt, người ta vẫn thấy lấp ló một vệt màu đỏ quạch của chiếc áo thun thằng Hào mặc ngày hôm đó, cứ dập dềnh, kẹt cứng dưới làn nước dữ, vĩnh viễn không thấy đường về nhà nữa...
Tin thằng Hào đã bị cuốn xuống vách biển khiến tinh thần thằng Long hoàn toàn sụp đổ. Nó giam mình trong buồng tối, người cứ lạnh dần lên. Giữa cái nắng tháng Bảy hầm hập, nó đắp ba lớp chăn vẫn run bần bật, răng đánh vào nhau cầm cập. Thầy lang tới bắt mạch chỉ lắc đầu, bảo sinh lực trong người nó đã suy kiệt gần hết.
Ngay trong buổi trưa hôm ấy, khi ba và ông nội vì lo lắng kiệt sức đã ngủ thiếp đi bên hiên, Long bỗng chìm vào một cơn mê sảng.
Long bỗng ngửi thấy mùi ẩm mốc của hang đá trộn lẫn vị tanh nồng của biển. Một luồng gió lạnh ngắt thổi thốc, kéo tuột tấm chăn bông. Long hé mắt, tim như ngừng đập.
Bà Tư đã đứng bên phản gỗ từ lúc nào. Da dẻ bà ta lúc này căng bóng, nhẵn nhụi một cách điên rồ như da của một đứa trẻ. Kinh hoàng hơn, bà ta đang lau cái miệng ăn trầu bằng một mảnh vải đỏ quạch, có màu giống hệt chiếc áo thằng Hào mặc hôm mất tích.
Bà Tư khom lưng, đưa khuôn mặt quái dị sát sạt mặt thằng Long, phả ra hơi lạnh buốt:
"Chu cha, nay thám tử Long nằm một chỗ rồi hen? Sao không qua quét lá xoài cho tao nghe kể chuyện nữa con?"
Long muốn hét lên nhưng cổ họng cứng đờ. Móng tay dài đen ngòm của bà Tư chậm rãi vuốt lên má nó. Ngón tay đi đến đâu, dường như sinh khí trong người Long bị rút đi từng chút một, thân thể nó cũng teo tóp lại rõ rệt đến đó.
Bà Tư thong thả chùi mép bằng mảnh vải đỏ, rồi lủi thủi quay lưng đi, giọng thều thào dội lại: "Ráng dưỡng sức đi con lỏi. Rồi sẽ tới lúc ông Minh đầu làng nhắm mắt, câu chuyện của ổng mới tới hồi kết. Còn mày… tao cũng sắp có chuyện để kể rồi. Chuyện về thằng Long lanh lợi… thích đi tra án ban trưa..."
Bóng bà ta biến mất vào cái nắng gắt như nung.
Sau trận mê sảng ấy, Long không còn tỉnh táo như trước. Càng lớn, nó càng thường xuyên bỏ nhà, lủi thủi quay lại quán vách đồi như bị một thứ gì đó gọi tên.
Chục năm sau, người ta không còn thấy bà già nữa nhưng trong cái hốc đá với gốc xoài chết khô ấy, người ta thấy có hai người điên. Một ông già tóc tai bù xù, và một thằng khác trẻ tuổi nhưng da thịt bủng beo, xám xịt như xác chết trôi, cặp mắt vô hồn thâm quầng. Cứ mỗi buổi trưa đứng bóng, thằng trẻ ấy lại lủi thủi đứng cạnh thân cây xoài chết khô, tay cầm cây chổi chà, ngơ ngác nhìn vào cái hang đá tối om sâu hoắm của nhà bà Tư.
-HÃI-
*Nội dung độc quyền bởi Creepypasta Việtnam – theo dõi kênh để không bỏ lỡ những câu chuyện mới nhất