Creepypasta Việtnam

Creepypasta Việtnam Chắc hẳn đối với chúng ta, khái niệm “truyện ma” là cụm từ đã quá đỗi quen thuộc.
(1711)

🪦Creepypasta nói đơn giản là những mẩu chuyện, video rùng rợn, trôi nổi trên internet.

🎃Kênh dành cho người xem 17+ trở lên, có yếu tố kinh dị gây ám ảnh.

🖤Cảm ơn bạn đã luôn theo dõi và ủng hộ

🔗 Link donate: • https://bio.link/creepyvietnam Bạn có nhớ những tối mất điện ngày bé, ngồi quây tròn bên ánh nến lập lòe, hồi hộp lắng nghe người lớn kể lại những câu chuyện hoang đường, rùng rợn ? Hay

mỗi khi chúng ta không nghe lời, cha mẹ vẫn thường mang những “ông ba bị”, “ngáo ộp”… ra dọa dẫm ? Với sự bùng nổ của mạng xã hội, những câu chuyện ma quỷ đó không chỉ đơn giản mang tính “truyền miệng” nữa, mà nhanh chóng ngập tràn khắp nơi trên internet, chúng được gọi chung là Creepypasta.

11/25/2025

Chuyện Ma Ở Quê Dì Cả .
Lại là chuyện ma miền tây đây , nhưng là miền tây Trung Quốc :3

-mimibeouu-

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃  #50 CON BÚP BÊ VỠ MẶT.Tôi không nghĩ tôi sống đủ lâu để viết lại những dòng này, suốt 60 năm qua cái thứ đ...
11/19/2025

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃 #50

CON BÚP BÊ VỠ MẶT.
Tôi không nghĩ tôi sống đủ lâu để viết lại những dòng này, suốt 60 năm qua cái thứ đó nó ám ảnh tôi như thể muốn truy cùng diệt tận. tôi sống với nỗi băn khoăn về không gian, thời gian trong một trải nghiệm kì lạ và cơn ác mộng đeo bám suốt 60 năm cho đến giờ này khi tôi biết tôi chỉ con cách cái chết vài giờ nữa.

Năm đó tôi chỉ mới 25 tuổi và vì không tham gia cuộc chiến tại Việt Nam nên tôi chấp nhận làm một gã chăn bò tại Texas, dĩ nhiên việc đầu tiên tôi làm tại vùng đất này là kiếm một căn nhà mới.

Chổ ở này nằm khá xa trung tâm, trong một khu đất hơn 8 mẫu Anh cực kì rộng lớn. với tôi chẳng khác nào thiên đường, tôi đã nghĩ đến những cuộc săn lơn rừng đầy thú vị ở đây thay vì “bị săn” ở Việt Nam như những gì mà bạn tôi nhắc đến qua thư.

Nhưng đây cũng là nơi mà cuộc đời tôi bị thay đổi hoàn toàn….

…Một cuộc săn khác.

Căn nhà khá rộng, chủ đã bỏ nó ở đây hơn 10 năm và cho thuê với giá như cho. Nhưng bù lại tôi phải dọn dẹp nó. Phòng khách cực kì bẩn thỉu và có một số vết ố không tẩy đi được, cái thứ này xuất hiện càng nhiều khi tôi dẹp tấm thảm qua một bên.

“mẹ ki/ếp! có nên lót lại sàn gỗ không đây!” tôi băn khoăn.

Quá chán nản với phòng khách, tôi lần mò xuống “địa ngục”, tôi phải nói như vậy vì cái địa ngục ấy chính là tầng hầm của căn nhà, nhưng chính nơi này ác mộng của tôi bắt đầu.

Những bậc thang trơn trượt, những bãi nước đọng từ hệ thống thoát nước bên trên…tôi đã sẵn sàng một cây gây để đậ/p bẹt bất cứ con chuột nào mà tôi thấy, nhưng kì thực là chẳng có con chuột nào cả, thật kì lạ đối với một căn nhà cũ.

Mọi thứ ở đây tối tăm cực kì, cho đến khi mò được cái cầu dao điện.

“Tách”

Ánh sáng bừng lên…mờ mờ. Một số con gấu bông nằm bèm nhẹp dưới nước, một cái giường nhỏ……. và đằng kia, trong góc phòng là một cô bé.

Tôi giật bắn mình, lùi lại mấy bước. nhưng khi định thần lại thì…đó chỉ là một con búp bê sứ tỉ lệ 1:1.

Tôi chửi thầm cái gu thẩm mỹ của chủ nhà, rồi lại rọi đèn pin vào mặt con búp bê xem cho rõ….

“FU*************K” tôi la lên!!!

Ngay trước mặt tôi là một cái mặt đáng sợ, con búp bê bị vỡ ngay tại miệng mất cả m/ũi, nhưng trông nó như đang cười toác miệng ra, một màu đen sâu hoắm ngay tại cái lỗ khiến tôi thấy chóng mặt, khủng khiếp vô cùng.

Tôi lùi lại ngay lập tức, quay đầu đi lên ngay…nhưng ngay phía lối ra là một bàn làm việc ngay ngắn, một cuốn sổ để tại đấy đề tên Dr. Cosy Jr.

Tôi đấu tranh ngay lập tức với ý tưởng mở ra đọc thử hoặc cầm nó lên nhà….

“chậc! chắc mình nghĩ nhiều quá rồi” tôi trấn an rồi cầm cuốn sổ lên.

“mở ra!”
Tôi lật sang trang tiếp theo, và nét chữ cổ xưa của Dr. Cosy như run rẩy dưới ánh đèn pin. Những câu chữ ấy… không giống nhật ký của một người bình thường. Chúng giống như lời độc thoại của một kẻ cố thuyết phục chính mình rằng hắn là một người cha tốt.

Nhưng càng đọc, tôi càng cảm thấy xương sống lạnh dần đi.

Tháng 8, 1952.

"Ta đã nhận được món quà từ thần linh… một đứa bé ngoan ngoãn, ít lời, chưa từng làm trái ý ta. Chỉ cần nhìn nó, trái tim ta đã ấm lại sau bao năm hành nghề lạnh lẽo… dẫu ta vẫn thường tự nhận mình là một người cha nghiêm khắc, thậm chí có phần khó tính, nhưng chưa khi nào đứa trẻ ấy tỏ ý chống đối. Nó ngoan ngoãn một cách… đáng quý. Chỉ cần ngắm nó ngồi bên cửa sổ, mái tóc rũ nhẹ trên bờ vai, đôi mắt đen láy nhìn ra khu vườn tĩnh lặng, là trái tim ta đã thấy hân hoan đến lạ.”

Tôi cau mày, cái sự Ngoan ngoãn của cô bé này có một chút gì đó gượng gạo.

Bác sĩ Cosy tiếp tục kể về căn phòng mà ông ta làm cho cô bé, chiếc giường nhỏ xinh xắn đầy đồ chơi và những người bạn….gấu bông! Tôi bất giác liếc nhẹ qua những con gấu dưới sàn, không thấy tay bác sĩ nói về con búp bê sứ…có lẽ lúc đó chưa có nó ở đây, nhưng sao nó cứ đứng đó như thể nó là chủ nhân của căn phòng này thể nhỉ.

Trang tiếp theo…

"Con bé dần yếu đi. Nằm liệt trên giường với đủ thứ ô uế từ người nó, những vết bẩn trên giường làm ta muốn phát điên… sự hỗn độn ấy phá vỡ trật tự mà ta gìn giữ. Ta yêu nó. Nhưng ta không thể để sự nhơ nhớp ấy xâm thực căn nhà… và tâm trí ta."

Tôi đọc mà nghe như có tiếng nghiến răng vang lên giữa dòng chữ. Hắn viết bằng giọng một bác sĩ thời xưa, lịch thiệp, nhưng bên dưới là một cơn bão. Một thứ gì đó méo mó.

Các trang tiếp theo….sự khó chịu ngày càng lộ rõ.

Ngày 11 tháng 12 năm 1853.

“Ta buộc phải làm vậy, như những bác sĩ an t/ử cho bệnh nhân. Con bé đã quá đau đớn, và ta không muốn phiền phức thêm nữa, những viên thuốc không thể giải thoát con thì hãy để ta, sợi dây này ta đã chuẩn bị….sẽ không đau đâu”

Cái gì cơ, tôi thảng thốt!

“Ánh mắt của con thật đẹp, con muốn xin gì…nếu con khỏe mạnh, có lẽ con sẽ trở thành thiếu nữ xinh đẹp nhất vùng…nhưng ánh mắt con mờ đi, ta không dám nhìn…ta chỉ nhìn đôi chân con dãy d/ụa….sao bình thường con không cố gắng quẩy đạp như thế này đi?”

“Đôi chân con dừng lại, bất động….ta cảm thấy được an ủi…tốt thôi, con đã được giải thoát”

Tôi lạnh cả người, hắn ta có phải là người nữa không?

“Ta phải giữ con bé lại. Không thể để nó rời bỏ ta lần nữa.”

Hắn viết vậy… rồi đoạn tiếp theo khiến tôi phải đưa tay che miệng.

Hắn bắt đầu mô tả quá trình ướp x/
ác.
Câu chữ của hắn vừa đều đặn, vừa lạnh tanh như đọc từ một cuốn giáo trình.

"Ta sát khuẩn cơ thể con bằng chlorhexidine. Da nó nhợt như sáp ong.

Một đường rạch giữa bụ/ng… gọn, sạch.

Ta lấy từng cơ quan ra ,ru/ột non, ru/ột già, gan, lá lác/h, ph/ổi… trái t/im bé nhỏ của nó,đặt tất cả vào khay thép ngâm formalin.

Hốc bụ/ng trống rỗng. Ta nhồi vào đó hỗn hợp natri nitrat, muối và borax. Hương formalin lan lên như một thứ mùi… hấp dẫn."

Tôi cảm giác như chữ trong trang muốn bò ra ngoài.

Mắt tôi cay xè, cổ họng nóng rát.

Trang kế tiếp:

"Ta tháo rời xươ/ng sườn, bẻ kh/ớp đầ/u gối, khớ/p khuỷu để cơ thể nhỏ bé có thể gập lại.
Tiếng rắc của xươ/ng như những nhánh cây khô… và ta biết mọi thứ đang vào đúng vị trí."

Tôi rùng mình, cảm giác từng đốt sống của mình cũng muốn gãy theo.

Con búp bê sứ trong góc tầng hầm như… gần hơn so với lúc nãy.

Rồi tôi thấy dòng cuối cùng lão viết,nét chữ kéo dài như bị cào vào giấy, nhưng đó lại là một bài thơ:

"Ta đã rỗng ru/ột thân búp bê sứ.

Ta trượt cơ th/ể bé con vào trong… vừa khít.

Khi gắn mặt, lớp sứ ở vùng miệng nứt ra.

Con đang cười hay một dấu hiệu thiêng liêng."

Tôi buông cuốn sổ như thể nó vừa cắn vào tay tôi.

Con búp bê trong góc tầng hầm giờ không còn là một món đồ cổ nữa.

Không.

Nó là một cái xá/c bị gập lại và nhét vào.

Miệng nó nứt. Đen ngòm. Như đang há ra để thở,hay để kêu cứu.

Và trong khoảnh khắc tim tôi muốn nổ tung, tôi thấy nó…

…nghiêng đầu nhẹ một góc, như chào đón tôi.

Tôi hét lớn….

Tôi bừng tỉnh trên chiếc ghế bành phòng khách, cổ còn đa/u như bị ai kéo lê suốt dặm đường. Ánh sáng trong nhà… sạch sẽ đến mức phi lý. Sàn gỗ bóng như vừa được đánh vecni, mùi xà phòng mới thoang thoảng, không chút bụi, không chút tàn tích của tầng hầm bẩn thỉu mà tôi vừa bước qua trong ký ức. Mọi thứ sáng đến mức khiến tim tôi lạnh dần đi.

Tôi cố nhớ lại,những trang nhật ký, con búp bê, cái miệng đen ngòm… nhưng ngay khi cố gọi lại hình ảnh, đầu tôi nhói như có ai nhét móc c/âu vào thái dư/ơng và kéo ngược ký ức trở vào bóng tối. Một làn hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi tự nói mình chỉ mệt, chỉ hoa mắt, chỉ…

…..Rồi tôi thấy nó.

Con búp bê đứng trước cửa phòng khách. Miệng nó không hề nứt, nhưng nó đang cười. Một nụ cười không tự nhiên, kéo ra quá rộng, như thể sự sống bị nhồi vào bên trong lớp sứ đã tạo thành thứ nụ cười ấy. Hai con mắt tròn xoe, như đang chờ tôi cử động trước.

Tôi hơi lùi lại. Nó nghiêng đầu,nhanh, giật, như chiếc máy ảnh rung bấm đúng khoảnh khắc.

Rồi nó lao tới.

Tôi gào lên, vớ được chiếc chân đèn gang nặng, phang thẳng vào mặ/t nó. Tiếng “choang” vang rền khắp phòng. Sứ vỡ toác, để lại đúng cái vết nứt mà bây giờ tôi quá quen thuộc. Tôi thở hắt ra,nhưng nó không ngã. Nó gần như không chậm lại dù chỉ một giây.

Một bàn tay sứ trắng bệch, mỏng như tay một đứa bé… nhưng sức mạnh thì không phải. Nó túm lấy cánh tay tôi, siết như kìm thép. Tôi còn chưa kịp rút tay lại thì một tiếng rắc vang lên, lạnh lẽo và tuyệt vọng.

Cánh ta/y tôi bị x/é khỏi cơ thể.
Má/u phụt thành dòng, nóng và đau đến mức tôi nghẹ/n thở. Tôi khuỵu xuống, miệng há hốc mà chẳng phát ra nổi tiếng hét. Nhưng nó không dừng. Nó túm lấy châ/n tôi. Một lực giật mạnh đến mức tôi tưởng linh hồn mình cũng bị kéo ra khỏi xươ/ng sống, và tiếng xươ/ng gãy lại vang lên, giòn như ai bẻ một mảnh gỗ khô.

Tôi thấy bản thân bị tháo rời từng mảnh. Ý thức tôi giật nảy, chìm vào bóng tối cùng với nỗi đau không thể mô tả, và một cảm giác rõ ràng: tôi đang bị x/é bởi một một con quỷ đến từ địa ngục.

,,

Tôi hét lên và mở mắt lần nữa.

Tôi nằm dưới sàn. Lạnh. Ướt. Nước đọng từ đâu đó thấm vào áo tôi như mồ hôi của một xá/c chết. Con búp bê đang dí sát mặt vào tôi, gần đến mức tôi thấy từng đường men, từng vệt bụi lẩn khuất dưới mí mắt bằng sứ của nó. Hai con mắt đen láy, không hồn, như đặt sát ngay hốc mắt tôi và muốn… chui vào.

Tôi đẩy mạnh theo bản năng.

Một tiếng nứt lớn. Thân nó vỡ toang, rỗng ra như một cái bình cổ bị ai đập sẵn vết. Một thứ đen ngòm… đặc, trơn, co giật như con đỉa khổng lồ còn sống… trườn ra khỏi thân búp bê. Tôi không kịp nhìn kỹ. Bản năng hét vào tai tôi rằng phải chạy, chạy ngay lập tức.

Nhưng căn nhà,lại sạch sẽ. Mới. Sáng bóng. Gọn gàng đến mức đáng sợ. Như thể tôi chưa từng chạm vào bất cứ thứ gì bên trong.

Tôi lao vào phòng khách… và chợt khựng lại.

Trên sàn là từng mảnh cơ thể người đàn ông nào đó, châ/n, ta/y, cả một đoạn thâ/n ng/ười bị xé toạc, n/ội t/ạng văng như bị quăng mạnh vào tường rồi trượt xuống. M/áu loang ướt cả những tấm ván gỗ sáng màu. Không khí đặc mùi sắt và sự kinh hoàng đến mức bụng tôi co rút như muốn nôn ra cả ruột.

Tôi đứng giữa phòng, run bần bật. “Mình… đang ở đâu?”,tôi chỉ nghĩ được thế trước khi cơn đau đầu nổ tung ở giữa trán, như thể ai đang cố kéo hai mảnh nã/o tôi về hai hướng.

Tôi đạp tung cửa, lao ra ngoài.

Nắng chói chang như một lưỡi da/o nung đỏ quét thẳng vào mặt tôi. Cơn đau đầu bùng lên dữ dội như có lửa bùng trong hộp s/ọ. Tôi quay cuồng tìm xe mình,không có. Bãi đất rộng trơ trụi. Căn nhà sau lưng,mới tinh, không hề giống căn nhà bụi bặm lúc trước.

Một người đàn ông cưỡi ngựa đứng đằng xa, như một bóng hình từ thế kỷ khác. Tôi hét lên cầu cứu, giơ tay, lảo đảo chạy về phía ông ta. Nhưng ông ta chỉ nhìn. Không gật đầu, không nhúc nhích, không phản ứng. Đôi mắt ông ta như hai cái giếng đen không đáy.

Tôi chạy. Chạy cho đến khi chân gần như tê dại, cho đến khi mọi thứ xoay tròn như cơn lốc, cho đến khi mặt đất bị kéo đi dưới chân như tấm thảm ai giật mạnh,

Và tôi tỉnh lại.

Trong bệnh viện.

Mùi thuốc sát trùng hắc lên mũi. Trần nhà trắng loá. Tim tôi đập như muốn phá tung lồng ngực.

Nhưng điều đầu tiên tôi làm…

…là nhìn xuống tay mình xem còn đủ hay không.

………….

Tôi thở phào, người ta nói tìm thấy tôi ở bìa rừng tôi đã ngất ở đó cho đến khi người ta mang tôi vào đây, ông chủ trang trại cũng đến thăm nhưng trông khá phiền vì tôi chưa đi làm ngày nào.

Tôi run rẩy uống hơn bốn liệu trình an thần trước khi xuất viện. Dù là được điều trị nhưng đêm nào tôi cũng la hét trong bệnh viện, tôi mơ về con búp bê đó và thật sự không biết con búp bê đó đã đi đâu hay còn đeo bám trong giấc mơ của tôi.

Tôi đến sở cảnh sát ngay sau đó và xin thông tin về vụ án liên quan đến căn nhà và đây là thứ khiên tôi phải im lặng cho đến lúc gần ch/ết.

“Trích hồ sơ vụ án Dr. Cosy Jr

Ông Cosy Jr, bác sĩ bệnh viện thị trấn, bị s/át h/ại dã m/an ngay sau đám ta/ng của con gái nuôi, một nhân chứng kể rằng, vào buổi trưa 28 tháng 12 năm 1853. Anh ta chứng kiến một nghi phạm là nam, chạy khỏi căn nhà về phía khu rừng, nhưng lời khai này không đáng tin vì không có dấu vết của người thứ ba trong căn phòng, cũng như cảnh sát đã triển khai bao vây và truy lùng suốt hai tuần mà không tìm thấy nghi phạm.

Hồ sơ tạm lưu tại kho vụ điều tra, cảnh sát liên bang. Chưa tìm thấy thủ phạm”

………………………

Tôi vốn không tin vào thuyết âm mưu không gian thời gian hay ma quỷ, tôi vốn chỉ muốn sống những ngày tháng của con người bình thường, tôi không bị săn như bạn tôi vì tôi từ chối đến chiến tranh, nhưng tôi lại bị săn trong tâm trí. Con búp bê đó hiện diện mỗi đêm trong cơn mơ, và chỉ biến mất khi tôi dùng thuốc an thần….ngay lúc này tôi sẽ nhắm mắt lần nữa….liệu lần nhắm mắt cuối cùng này có khiên tôi đối mặt với con búp bê ấy một lần nữa không?...…tôi cũng ….không…biết!

- HÃI -
*Nội dung độc quyền bởi Creepypasta Việtnam – theo dõi kênh để không bỏ lỡ những câu chuyện mới nhất👉

11/18/2025

Huyết Ngải Vong Thuật | Series Độc Quyền – Phần 1: Cực Hạn Của Bùa Chú Hắc Ám

-mimibeouuu-

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃  #49MỘ CÔ KHÔNG TÊN.Sài Gòn, một đô thị lâu đời của Việt Nam, nó sầm uất, hiện đại với nhiều nhà cao tầng, ...
11/16/2025

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃 #49

MỘ CÔ KHÔNG TÊN.

Sài Gòn, một đô thị lâu đời của Việt Nam, nó sầm uất, hiện đại với nhiều nhà cao tầng, trung tâm nhộn nhịp. Nhưng bên cạnh đó lần khuất giữa những tòa nhà ấy là những khu vực chen chúc của những kẻ mưu sinh bên bờ kênh rạch. Cuộc sống của họ được bao bọc bằng mùi xú uế từ con rạch đen ngòm bốc lên xồng xộc, mùi mồ hôi và cả mùi má/u.

Tôi đến rạch Xuyên Tâm vào năm 2010 để làm đồ án tốt nghiệp nghiên cứu đặc tính dân cư. năm đó ở đây dường như là một bãi rác không hơn. Ông thầy hướng dẫn khuyến khích tôi rời kí túc xá dọn qua đây một tháng, hòa nhịp để thấu hiểu. Tôi xin trọ được trong một “cái chuồng” tồi tàn với giá 200 ngàn một tuần. chỗ tôi nằm chìa thẳng ra con rạch, qua khe tôn tôi có thể thấy luôn cái đống rác ở dưới, bên ngoài cách cái chuồng không xa là một ngôi mộ quét vôi trắng. “Mộ Cô Không Tên”.

Cái mộ này nằm đây đã lâu, mấy ông già ở đây nói nó nằm đây từ năm tám mấy, nghe nói ăn xin tha hương về đây té xuống rạch rồi chế/t, xong chôn đây luôn vì thời đó chỗ này còn thưa thớt. Nghe cũng không có gì đáng sợ, vì với dân ở đây chuyện thấy xá/c chế/t trôi là bình thường.

“Cái con rạch này, mẹ! năm nào cũng có đứa nhảy, không cố tình nhảy thì cũng là con nít chơi té chế/t” ông già ngồi hút thuốc nói.

“Dưới này đồn có ma da đấy, không khéo “cô” kéo xuống chứ con nít gì mà vài năm lọt một đứa” Ba già ngồi cạnh nói, mắt đưa nhẹ về phía ngôi mộ trắng.

“bà im mẹ mồm đi! Nói phạm cô quật cho giờ” lão già gắt.

“Nhưng được cái cô cho số đấy, không có thường xuyên nhưng được cái lâu lâu xin cũng cho, cũng được ít qua bữa”

Cứ thế câu chuyện tiếp diễn, chẳng có cái lí lẽ nào là thuyết phục nhưng với tôi lại là thông tin có ích, nó phản chiếu cái tâm linh nơi những người dân ở đây.

Nhưng cái ngôi mộ ấy cũng làm tôi tò mò, vì nói cô không có người thân cũng không đúng, bởi vì hàng tuần cứ vào ngày thứ 4, tầm khoảng chiều muộn là có bà cô đến quét dọn, bà ấy mặc đồ nhân viên vệ sinh quét qua loa cái khoảng sân nhỏ, dọn hết rác rưởi, kim tiêm, vé đề quanh mộ rồi đi. Dân đây ai cũng thấy, có người còn cho đồ ăn nhưng bà đó không có ăn kiểu cũng cảm ơn rồi sáng hôm sau lại thấy gói xôi nằm ở góc mộ.

Nên miết người ta cũng không cho ăn nữa. Mà dân đây cũng có thời gian đồn bả là ma, nhưng ma gì hiện rõ như người hai chân hai tay đầy đủ lại còn biết dọn rác nữa, nên thôi! Kệ bả, sạch là được, mà đám trẻ ở đây xả rác kinh lắm, tôi dọn sạch sáng lại đâu vào đó à. Lâu dần người ta gọi bả là “cô tư”

Tôi nghe cũng có phần li kì nên hồi hộp chờ cho đến thứ 4 xem cô tư ra sao, dân đây nói cô ít nói, có vài người hỏi cô cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện, sau rồi người ta đồn cô điếc nên cái tên của cô được nâng cấp thành “cô tư điếc” và người ta mặc cô muốn làm gì thì làm nhưng tôi nghĩ giá cô chịu nói chuyện rồi cho ít thông tin về cái mộ kia thì bài nghiên cứu của tôi sẽ mang nhiều màu sắc hơn.

Nên mới 4 giờ chiều tôi đã ngồi sẵn đối diện cái mộ chờ cô Tư.

5 giờ rưỡi chiều. Trời vừa tắt nắng.

Ánh cam cuối cùng rút khỏi mặt nước rạch Xuyên Tâm, để lại vệt nhờ nhợ như dầu loang. Không khí cuối năm tự nhiên se lại, cái lạnh bất chợt cứa vào da thịt, một sự đối lập rõ rệt với cái nóng hầm hập ban trưa còn hằn hơi trên mặt đường.

Tôi kéo sát áo, đứng tựa vào cột điện, mắt nhìn về phía ngôi mộ trắng. Bóng tối chưa đổ hẳn nhưng đã kịp nuốt mất những rìa nhà tôn thấp lè tè. Từ sau bức tường khuất cách mộ chừng năm mét, một âm thanh nghe rất nhỏ , xoèn… xoẹt… xoèn… xoẹt… đều đặn

Cô Tư xuất hiện.

Từ góc tối bước ra, cái dáng lom khom như đang cố thu mình lại khỏi ánh sáng lờ mờ sót lại. Cô ăn mặc kín mít: bộ đồng phục công nhân vệ sinh bạc màu như được giặt bằng nước rạch, tay đeo găng rách, chân mang đôi dép nhựa đã méo. Nửa mặt trên bị che bởi cái nón lưỡi trai bẩn, phần dưới thì bị bịt kín bởi chiếc khẩu trang vải đen thùi, dính những mảng đất ố cũ đến mức không biết màu nguyên bản là gì.

Chỉ thấy thấp thoáng nơi khóe mắt một quầng tối, không biết là bóng nón hay là do đôi mắt cô đã chìm hẳn vào hốc sâu.

Xa xa văng vẳng tiếng kinh Phật từ nhà ai đó. Giọng tụng lẫn với tiếng máy nổ của quán sửa xe đầ/u hẻm, rồi tan loãng trong hơi lạnh chiều.

Cô Tư cúi xuống nhặt từng miếng rác, từng cái kim tiêm, từng mảnh vé đề vương lại quanh mộ. Không nhanh, không chậm, không hề ngẩng đầ/u. Động tác của cô đơn điệu như một nghi thức đã quen hàng chục năm.

Tôi đứng nhìn hồi lâu. Không hiểu sao hôm nay, trời lại se lạnh đến thế.

Tôi quyết định bước lại.

Càng đến gần, mùi nước rạch càng nồng, nhưng xen giữa là một mùi gì khác… phảng phất như mùi nhang. Gần đến mức chỉ còn cách chừng vài bước, cô vẫn không quay lại, cứ quét, quét, quét như chẳng hề biết tôi đứng sau.

Tôi khẽ cất tiếng:

“Cô… cô quét mộ từ hồi nào vậy ạ?”

Cái chổi dừng lại. Không khí như đặc quánh.

Nhưng lúc ấy, cô Tư từ từ xoay mặt về phía tôi.

Tấm khẩu trang đen thùi cử động nhẹ như một hơi thở dài hắt ra từ nơi rất sâu. Từ dưới vành nón là hai bóng mắt tối, nhưng tôi thấy, hay tưởng tượng thấy, có ánh gì đó chuyển động trong đó, như thể đang quan sát tôi nhiều hơn tôi quan sát cô.

Một lúc lâu.

Rồi cô nói vừa nói vừa cúi xuống quét tiếp:

“hai chục năm rồi”

Cô lại cúi xuống, tiếp tục quét như chưa từng ngẩng đầu. Như thể câu trả lời ấy chỉ dành cho mỗi mình tôi, và chỉ nói ra vì tôi đứng đây, vào đúng chiều thứ Tư này.

“con nghe bảo… cô đó tự nhảy xuống rạch?”, tôi dè dặt hỏi, cố giữ giọng bình thường, nhưng hai vai vẫn khẽ nổi g*i vì gió lạnh.

Cô Tư khựng tay lại đúng một nhịp, cái chổi tre còn chạm xuống mặt đất nghe xoèn một tiếng khô rang.

“Nhảy gì mà nhảy.” cô thở ra, giọng cộc nhưng không khó chịu “Bị xe hất văng xuống đó.”

Tôi ngước lên, định hỏi thêm thì cô đã nói tiếp, như đoán trúng ý nghĩ của tôi:

“Ờ, chưa chế/t đâu. Hất xuống ngoi lên được mà, nhưng cái thằng tài xế… nó chạy cái vèo. Không thèm xuống coi. Cô đó kêu cứu, có ai nghe đâu. Rồi trôi… trôi miết, tấp vô đây.”

Cô nói mà không ngoảnh lại. Cái lưng áo phản quang sờn bạc cứ nhịp đều theo từng cú kéo chổi, như thể chuyện cô kể chỉ là một mẩu tin vặt đời thường.

Tôi thấy khó chịu nơi cuống họng, nghèn nghẹn. Nhưng trước khi tôi kịp mở miệng, cô đã phì cười sau lớp khẩu trang vải đen:

“Thấy chú tính hỏi cô sao biết phải không? Ha! Nhìn cái mặt chú là cô đoán ra ngay.”

Tôi hơi giật mình.

“Cô… được báo mộng hả?”

“Ờ.” cô đáp đơn giản như thể tôi vừa hỏi chuyện ăn cơm “Mấy chuyện khuất mặt khuất mày, người bình thường ít khi mơ thấy lắm. Nhưng tôi thì có đấy!

Tôi lạnh sống lưng, không rõ vì gió hay vì câu nói đó.

Chưa hết, cô bỗng quay lại nhìn tôi một cái sắc lẻm:

“À, mà chú có muốn xin số không?”

Tôi há hốc: “S… số gì cô?”

“Số đề chứ số gì.” cô bật cười khùng khục “Dân quanh đây hay xin số cô Không Mặt lắm. Thấy bóng dáng lạ lạ là làm liền. Mà khổ… cái chỗ này người ta cũng ra đây phóng uế, rồi mấy đứa nghiện lăn lóc tiêm chích. Tội nghiệp. Cô Không Tên thì không nói được chứ tôi thấy mà thương. Thành ra tôi ghé qua quét dọn chút cho sạch sẽ.”

Cô lại cúi xuống, lom khom hất đám lá mục vào cái thau nhôm, cái chổi xoèn xoẹt đều đặn.

Cơn gió lạnh lại tạt qua, thiệt là tôi chỉ muốn rút khỏi cái đề tài này ngay và luôn, định cáo từ thì tiếng chổi dừng lại.

“Thấy chủ mày cũng sáng đấy, lỡ có gặp ai khuất mặt khuất mày thì nhớ giúp người ta, không tội nghiệp. Gì chứ con rạch Xuyên Tâm này nhiều lắm” cô nói xong xách cái thau nhôm đi luôn, để lại tôi ú ớ.

“Gì, gặp ai? Khuất gì cơ? Ăn xin hay gì mà giúp đỡ…?” tôi rối tung đầu óc mụ mị cho đến khi cô đi khuất thì trời cũng đã tối.

Những lời của cô Tư cứ quẩn quanh trong đầu tôi suốt buổi tối. Người khuất mặt khuất mày…Cả câu chuyện cô Không Tên bị xe hất xuống rạch. không chế/t ngay, vùng vẫy trong dòng nước đen ngòm, rồi bị bỏ mặc cho trôi dạt tới đúng cái xó này, cứ chảy lại từng nhịp như phim tua ngược.

Tôi càng nghĩ càng thấy rờn rợn. Mỗi khi nhắm mắt, lại thoáng thấy cái hình bóng không mặt đang lững thững trôi trong tâm trí mình, mái tóc bết nước dính lên phần đầ/u cụt m/áu. Đêm đó, tôi nằm trằn trọc mãi. Cứ vừa chợp mắt một tý là giật mình bật dậy, mạch đập phập phồng ở thái dương.

Đến khi buồn đi tiểu, tôi còn chẳng dám bước ra nhà vệ sinh chung của khu trọ, cái nơi lạnh ngắt, hôi bốc và ánh đèn vàng cứ lập cập nhấp nháy như có người đứng chắn. Người tôi mềm nhũn vì sợ.

Chỗ tôi nằm vốn chỉ là một phần tôn cơi nới tạm bợ lấn ra mép rạch. Cái ô cửa nhỏ bọc bạt, nếu gọi là cửa sổ thì cũng chỉ thuộc dạng làm cho có. Nhìn quanh một hồi, tay chân run bần bật, tôi nghĩ:

“Kệ… chắc ở đây ai cũng vậy thôi…”

Thế rồi tôi hé tấm bạt, nhón người tiểu thẳng xuống dưới. Dưới chân là đống rác, lục bình đặc quánh, nước đen cuồn cuộn chảy chậm đến mức tưởng như đứng im.

Nhưng ngay giây sau đó, cả lồng ngực tôi đông cứng.

Một luồng khí lạnh buốt bốc lên, lạnh đến mức tê ngón tay.

Rồi… é… é… é… một tiếng khóc con nít. Nhỏ như tiếng mèo con, nhưng rền trong không khí như xuyên qua ống xư/ơng.

Mọi thứ trên người tôi co rút lại ngay lập tức!

Và tôi thấy.

Ngay đúng chỗ tôi vừa tiểu xuống một phần đầ/u thai nhi, trắng nhợt, không trọn vẹn, nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Một mẩu cánh ta/y bé xíu mắc vào đám lục bình, kéo cả xá/c bé chao qua chao lại. Mấy con cá dưới rạch, loại cá đen sì chuyên sống trong nước cống, đang bâu quanh phần bụng mỗi lần chúng rỉa một miếng, cái xá/c nhỏ lại khẽ lắc, như còn động đậy.

Tôi bật thốt lên:

“Trời ơi! Có… có đứa nhỏ chế/t dưới này! Bà con ơi!!”

Nhưng tiếng tôi vang lên rồi chìm ngay vào không gian vô cảm của khu.

Cửa phòng bên mở hé. Một anh gầy nhom ngó ra, mặt còn đờ ngủ:

“Mẹ! đêm ngủ mà la dữ vậy?”

Tôi chỉ xuống dưới, giọng lạc hẳn: “Con… con nít… xá/c con nít…”

Anh ta nhìn một lúc rồi… nhún vai:

“Ờ… có cái gì đâu ở đây lâu lâu vẫn có, qua nhà tạp hóa mượn cái vợt dài rồi vớt đi, nó đậu nhà ai thì nhà đấy vớt.”

Tôi phải năn nỉ mãi ông bà bán tạp hóa mới qua vớt hộ, họ đứng trong phòng tôi thò người ra ngoài mà vớt, mũi khìn khịt phản ứng với cái mùi khai khái xung quanh.

Cái xá/c đước vớt lên, kéo vào trong, nước nhễu nhãi xuống cả giường chiếu và quần áo của tôi, họ đặt đứa bé xuống ai cũng nhăn mặt.

“êu, đứa này ngâm lâu quá rồi” một bà cô bịt mũi nói.

Phần thân dưới của đứa bé… không còn. Ruộ/t non lòi ra khỏi lớp da bị rỉa nham nhở. Đầ/u thì bầm lại như bị va đập trước đó. Chị kia nhìn mà thở dài:

“Chắc mấy nhỏ sinh viên trọ đẻ chui rồi phi tang.”

Một ông già cười nhạt, khói thuốc phụt ra từng làn:

“Không chừng bệnh viện nó quẳng ra. Ở đây xưa nay vậy rồi! Thôi lấy gì quấn cho nó rồi báo công an cho người ta mang đi, không có chôn lung tung nữa đâu họ phạt đấy!”

Vài người xúm lại, kẻ thương xót, kẻ bàn tán nhưng tất cả đều mang một vẻ bình thản đến đáng sợ. Như thể chuyện này là bánh mì buổi sáng, là hủ tiếu gõ khuya quen thuộc đến mức chẳng còn chấn động gì.

Còn tôi… thì hai tay run dữ dội.

Tôi không còn đứng nổi.

Không kịp thu dọn tử tế, tôi gom đồ vào balô, chộp theo chiếc áo khoác và cuốn sổ ghi chép, rồi xách vali lao ra khỏi khu trọ. Mùi nước rạch, mùi tanh nồng của xá/c bé, tiếng “é… é…” như còn đeo bám sau lưng tôi từng bước.

Đêm cuối năm se lạnh ấy, tôi biết chắc một điều:

Tôi phải rời khỏi nơi này.

Ngay. Lập. Tức.

Từ sau cái đêm nhìn thấy thai nhi trôi dưới rạch, tôi trở về trường trong trạng thái sụp xuống rõ rệt. Những ngày kế tiếp chẳng có đêm nào tôi ngủ trọn. Chỉ cần nhắm mắt là lại thấy mái tóc bệt nước, lại thấy đám lục bình, lại nghe tiếng “é… é…” như sót lại trong màng nhĩ.

Mệt mỏi cứ dồn lên như bị ai chồng đá lên ngực. Đến nỗi trời đang nắng chang chang mà sống lưng tôi vẫn rợn lạnh, lạnh đến mức g*i ốc cứ nổi trùm kín hai tay. Làm gì cũng thấy nặng nề, khí lực như bị rút cạn. Tôi tưởng do stress đồ án, nhưng càng gần tới ngày tốt nghiệp, cơ thể tôi càng suy sụp kỳ lạ. Những cơn lạnh ngắt đến bất chợt, những giấc ngủ chập chờn, và cảm giác ở đâu đó luôn có người đứng ngay sau lưng… nhìn tôi.

Một tối không chịu nổi nữa, tôi quyết định lên chùa cầu an. Chùa nằm ở quận ngoại vi, yên tĩnh hơn thành phố cả chục lần. Vừa bước vào sân chùa, tôi đã thấy buốt sống lưng — một cảm giác như ai đó đi sát theo sau mình.

Khi sư thầy nhìn tôi, mặt ngài đổi sắc rất nhẹ.

Ngài bảo:

“Con… có hai von/g theo sau. Một phụ nữ… và một đứa trẻ.”

Tim tôi thót lại. Toàn thân ớn lạnh. Tôi quay phắt lại , chẳng thấy gì ngoài khoảng sân trống.

Sư thầy tiếp:

“Đứa bé thì ướt lắm… còn vong nữ kia… tay cầm cái chổi. Mắt cô ta đen kịt… đứng rất gần con.”

Tôi suýt ngã xuống sảnh chùa.

Nhà chùa lập tức thu xếp làm lễ trục vong. Khi hương được đốt, chuông gõ từng tiếng trầm, tôi run không kiểm soát được. Như thể cái lạnh trong người bị lôi ra ngoài.

Sau khi làm lễ, tôi kể lại toàn bộ câu chuyện ở Rạch Xuyên Tâm cho sư nghe, từ cô Tư đến ngôi mộ trắng, đến cái đêm nhìn thấy thai nhi.

Nghe xong, sư thầy gật đầu chậm rãi:

“Con hợp vía với cô Không Tên ấy. Cô ta tìm người hữu duyên suốt hai mươi năm nay. Cô hiện giờ quáng gà chỉ hiện ra lúc giao thoa sáng tối, nên dân ở đó mới không thấy rõ. Con vừa gặp, cô liền theo con. Đứa bé… là oan hồn mới, trôi dạt, cô ta thương nên mang theo.”

Tôi nghe mà lạnh sống lưng, nhưng lòng lại thấy nhẹ phần nào. Sư nói thêm:

“Con tưởng là bị ám, nhưng kỳ thực… con đang làm việc có đức. Con dẫn được hai vong tới chùa. Để họ được siêu thoát. Không phải ai cũng đủ duyên để làm chuyện này.”

Buổi lễ kết thúc, tôi thấy cơ thể mình nhẹ đi đến kỳ lạ. Như được lấy lại hơi thở mà suốt nhiều tháng qua tôi quên mất là nó từng nhẹ đến vậy.

Rời khỏi cổng chùa, gió chiều thổi qua mặt, tôi nhìn lại cuộc đời mình mấy tháng vừa rồi, đầy rợn ngợp, đầy ám ảnh, nhưng cũng đầy những điều mà sách vở không bao giờ dạy.

Và tôi chợt nghĩ:

“Trong một thành phố rộng lớn, người sống đôi khi vô tình đến tàn nhẫn… nhưng những người đã chế/t lại chỉ chờ một người chịu dừng lại và nhìn họ như một phận người. Kỳ lạ là, cái lòng thương ấy đôi khi lại cứu chính mình trước.”

-HÃI-

*Nội dung độc quyền bởi Creepypasta Việtnam – theo dõi kênh để không bỏ lỡ những câu chuyện mới nhất👉

11/11/2025

Creepypasta Liên Minh Huyền Thoại : Tôi Không Muốn Được Vinh Danh Nữa

Nhân lúc T1 vô địch lần thứ 6 LoL , chúng ta cùng xem một video creepypasta của tựa game Liên Minh Huyền Thoại từ rất lâu rồi nhé !

-mimibeouuu-

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃  #48MIẾU CÔ KHÔNG MẶT.Tôi không nhớ rõ là năm nào nữa, chắc là hồi còn bé xíu, nhà tôi ở gần bến sông. Mỗi ...
11/10/2025

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃 #48

MIẾU CÔ KHÔNG MẶT.

Tôi không nhớ rõ là năm nào nữa, chắc là hồi còn bé xíu, nhà tôi ở gần bến sông. Mỗi lần nước lớn, mẹ hay bảo tôi đừng lại gần miếu. Cái miếu nhỏ xíu, bằng đất nung, rêu bám kín. Người ta gọi là miếu cô không mặt.

Nghe mấy cụ kể, cô ấy hồi xưa là gái làng, đẹp, ngoan, cô cũng yêu rồi có trót có bầu. Không ai biết cha đứa bé, mà cha đứa bé cũng không đứng ra nhận, cùng lắm thì làng phạt vạ rồi rước cả trâu lẫn nghé về thôi.

Nhưng không! Chẳng có thanh niên nào nhận cả, mang tiếng ô nhục cả dòng họ thì ai mà nhận, rồi cái ngữ con dâu lăng loằng không trinh tiết thì cha mẹ nào muốn rước về nhà?

Họ không cho thanh minh, dù cô la tên con trai trưởng làng hơn trăm lần, nhưng không ai muốn nghe lời của một con đàn bà hư hỏng, bất cứ cái tên nào cô thốt ra họ đều cho là vu khống.

Trưởng làng đứng đó trợn mắt quát: con mụ hư hỏng mày đừng hòng đổ vạ cho nhà tao, đồ chó cái!

Đêm đó, người làng kéo cô ra sân đình, t/rói hai tay, đổ tro trấu lên đầu. Tro ướt, dính bết vào tóc, vào mặt, khói cay mắt, cô la hét như con heo bị chọc ti/ết. Họ cứ trát mãi, trát đến khi không nhìn ra người nữa.

Trát mặt mày cho mày khỏi nhìn đời, làng này cũng không muốn nhìn mặt mày!

Cô gào tên mẹ, nhưng ai cũng quay mặt đi.

Có người nói khi kéo ra bờ sông, cô vẫn còn mở mắt, run rẩy như người sốt, nhìn hết người này đến người khác, tìm một người cứu. Không ai cả.

Họ bỏ cô vào cái rọ tre, cột chặt miệng. Cô giãy mạnh, rọ rung lên, trấu văng ra khắp bờ nước. Có đứa con nít đứng xem, sợ quá khóc thét.

Hai ba thanh niên nhét đá vào rọ, có cả con trai trưởng làng - người mà cô gọi tên, chúng nhét đá vội vã cho xong việc rồi đá lăn rọ xuống, nghe một tiếng “bụp”… rồi im. Có người bảo vẫn nghe tiếng hét vọng theo dòng nước.

Đêm đó mưa lớn, mấy ngày sau, người trong làng phơi trấu ngoài sân, bỗng nghe có tiếng thở khẽ, như ai nằm ngay dưới lớp trấu ấy, họ sợ quá! Sợ cái vệc mình mới làm ngày hôm qua.

Ngày này qua ngày khác tiếng khóc thê lương vang vọng khắp mặt sông, mấy gã thanh niên đổ ốm đồng loạt.

Sợ quá trưởng làng sai lập cái miếu. Đắp tượng cô, nhưng không ai dám nặn mặt. Mỗi lần ai thử, đất sẽ nứt, như có gì bên trong không chịu.

Tôi từng nhìn tượng đó một lần, khi trời nhập nhoạng. Chỗ cái đầu chỉ là khoảng rỗng đen thui, sâu lắm, nhìn vào thấy như có ai đang nhìn ngược lại. Mẹ tôi kéo tôi đi, mắng: “Không được nhìn lâu, kẻo cô nhận mặt.”

Giờ miếu vẫn còn đó, gió thổi ngang sông nghe như tiếng thở, ẩm và lạnh. Người già bảo, đêm mười lăm tháng Bảy, ai đi qua mà nghe mùi tro trấu cháy, thì chớ quay đầu.

Nói thế rồi mà năm nào cũng có người bị ám cho té sông, có năm không vớt lên được x/ác trôi trương phình.

Trải qua cả trăm năm rồi không biết cô còn hận thù tới khi nào nữa?

-HÃI-
*Nội dung độc quyền bởi Creepypasta Việtnam – theo dõi kênh để không bỏ lỡ những câu chuyện mới nhất👉

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃  #47BÙA ĐOẠT THỌ Người ta hay nói, chế/t là hết mệnh!Vậy những người t/ự kế/t l/iễu thì sao? Mệnh thọ của h...
11/09/2025

𝐔𝐑𝐁𝐀𝐍 𝐋𝐄𝐆𝐄𝐍𝐃 #47

BÙA ĐOẠT THỌ

Người ta hay nói, chế/t là hết mệnh!

Vậy những người t/ự kế/t l/iễu thì sao? Mệnh thọ của họ đi về đâu?

Lâm Khải Minh ngồi lặng trong căn phòng chật hẹp khu Cửu Long Thành Trại, ánh đèn bàn vàng úa soi lên hàng chục tập hồ sơ xếp chồng trên mặt bàn. Bên ngoài, đêm Hồng Kông mưa lất phất, tiếng tàu điện leng keng xa dần như tiếng chuông gọi hồn của những kẻ biến mất bí ẩn.

Anh đã đọc suốt hai đêm liền - toàn những bản sao chép từ kho lưu trữ Trung Hoa Dân Quốc trước khi giải thể ở đại lục: bản niên biểu của triều Đường muộn ghi chép về một triều đại kéo dài gần 200 năm với 3 vị hoàng đế khác nhau nhưng toàn bộ chính sách, khai chỉ đều giống nhau như một thể thống nhất. Cũng thời đó ghi nhận án tru di cửu tộc được thi hành nhiều nhất.

Thêm một bản chép tay của một học giả thời Thanh kể chuyện một gia tộc địa chủ ở Hồ Nam sống qua bốn đời triều đại, mỗi lần thay tên, đổi hộ tịch, nhưng nét chữ trong di chúc vẫn như một.

Tất cả đều cùng một mô thức: quyền lực và cách thức cai trị kéo dài quá mức bình thường, và mỗi lần thay đổi danh tính là có một ai đó mất tích.

Khải Minh lật đến trang cuối cùng của một tập hồ sơ đánh máy.

Giữa hàng chữ cháy xém là con dấu đỏ của Đại học Bắc Kinh, đề năm 1936.
Phía dưới là tiêu đề nửa mờ nửa hiện:

“Báo cáo nghiên cứu – Nghi thức Đoạt Thọ và những trường hợp lịch sử..”
Anh nhắm mắt, cố hình dung người đã từng viết nên tập tài liệu này. Theo lời người quản thư mà anh phải lén lút đưa phong bì dày mới khiến gã mở cửa, bản gốc từng thuộc về một sinh viên năm cuối khoa Tôn giáo học. Cậu ta chế/t trong một vụ va chạm xe điện ngay tại cổng trường, cùng ngày bài luận được nộp.
Kể từ đó, tập tài liệu bị niêm phong với lý do “chứa yếu tố mê tín phản khoa học”.

Giấy in cũ vàng, mép trên cháy dở, nhưng vẫn đọc được vài dòng rời rạc:

“...thuật này bắt nguồn từ triều Minh, ban đầu chỉ là nghi lễ kéo dài tuổi thọ của quân vương...
..nhưng về sau biến thể, trở thành phương pháp cưỡng đoạt sinh khí – người mất đi tuổi thọ sẽ dần lụi tàn, còn kẻ hành lễ sẽ hấp thu phần dư mệnh ấy...
..được ghi nhận tại Nam Xương và sau đó biến mất trong thời loạn.”

Khải Minh khẽ rùng mình.

Anh nghĩ đến hàng loạt câu chuyện anh đã từng viết – về những cái chế/t lạ, những vụ t/ự t/ử trong sòng bạc, những kẻ giàu có sống dai đến mức thành huyền thoại. Tất cả đột nhiên xâu chuỗi lại thành một mạch logic đáng sợ.

Trên bàn, cạnh đống tài liệu, là bức ảnh chụp chung của anh với Trần Gia Hạo, người bạn thân mà anh nhân tin đã rơi từ tầng 18 của sòng bạc Golden Crane ba tháng trước. Cảnh sát gọi đó là “tự vẫn vì nợ nần”. Tuy nhiên người thân của Hạo không nhận được xá/c của anh để mai táng. Họ nói còn phải điều tra.

Nhưng ánh mắt trong bức ảnh kia – vẫn sáng, vẫn tự tin – khiến Khải Minh biết chắc một điều: Hạo không hề muốn chế/t.
Anh nhìn lại tờ giấy cháy xém, dòng chữ cuối cùng.

“Thuật Đoạt Thọ không thể truyền qua chữ nghĩa. Nó chỉ được hoàn tất khi người kế thừa hiểu được rằng sinh mệnh không thể chia đều – mà phải lấy đi của kẻ khác.”

Khải Minh rít một hơi thuốc, khói trắng cuộn quanh đầu, nặng nề như linh hồn ai đó đang lẩn quẩn trong căn phòng.

Một ý nghĩ lóe lên:

phải chăng những người sống quá lâu kia đã đổi mạng với ai đó?

Anh nhớ Trần Gia Hạo luôn có một niềm say mê kỳ lạ với những điều người khác né tránh.

Trong những năm họ còn cùng làm cho tờ Oriental Daily, anh ta thường thức trắng để đọc những bản chép tay dân gian, những ghi chép nửa thật nửa hoang tưởng về phép bùa, cách gọi hồn, hoặc các nghi thức “hoán thọ” của triều đình xưa.

Khải Minh từng trêu:

“Cậu đọc nhiều thế chỉ tổ gặp ác mộng.”

Hạo cười, đôi mắt hằn quầng thâm:

“Ác mộng cũng là một cách học về chế/t. Mà chế/t, anh biết không, là chuyện có thể thương lượng được.”

Câu nói ấy, ngày đó Minh chỉ xem là lời nói đùa của một người làm nghề quá lâu trong thế giới tội phạm và xá/c chế/t.

Cho đến đêm Hạo đến nhà anh, mang theo một xấp tài liệu ẩm mốc, bên ngoài chỉ ghi hai chữ viết bằng mực nâu: “夺寿.”

Hạo nói nhỏ, giọng như sợ ai nghe thấy:

“Anh có tin tuổi thọ có thể chuyển được không? Không! Tôi không có nói về y khoa, tôi nói về huyền sử……cậu biết đấy có những kẻ sống lâu bất thường ẩn nấp qua nhiều danh tính khác nhau…

Anh ta không kể chi tiết. Chỉ nói rằng anh quen một nhóm người ở sòng bạc Golden Crane – toàn kẻ má/u mặt, thương gia, và một “thầy phong thủy” tự xưng là hậu duệ của đạo sĩ triều đình nhà Minh.

Họ mời Hạo tham dự “một buổi lễ mà cả đời chỉ được thấy một lần.”
Anh ta nói sẽ viết bài điều tra “rúng động Hồng Kông”.

Rồi Hạo biến mất.

Ngày hôm đó Khải Minh còn ngồi viết bài trong phòng biên tập của South China Gazette. Dòng tin ngắn gọn làm phòng tin tức bàn tán lộn xộn, cậu nhọc học việc tên Từ Viên chạy qua chỗ Khải Minh đưa cho anh mẫu tin.

“Nam phóng viên tờ Oriental Daily – Trần Gia Hạo, rơi từ tầng 18 sòng bạc Golden Crane tại khu Tsim Sha Tsui. Cảnh sát kết luận: T/ự t/ử”

Anh không thể tin vào mắt mình. Anh đến ngay sòng bạc Golden Crane nhưng cảnh sát đã dọn dẹp hiện trường. Khải Minh liên lạc ngay cho một người quen làm ở sở cảnh sát Tsim Sha Tsui nhưng không thể tiếp cận thông tin hay được cấp phép đến nhà xá/c. Anh ấy chỉ nói cảnh sát đang điều tra thêm, hiện không thể cung cấp thêm thông tin gì.

Khải Minh nhắm mắt lấy hơi dài rồi bắt taxi nhưng thật sự anh biết mình phải bắt đầu từ đâu.

Căn hộ của Trần Gia Hạo nằm ở tầng năm khu nhà kiểu cũ trên đường Temple, quận Yau Ma Tei — dãy nhà có hành lang hẹp và cầu thang sắt kêu ken két mỗi khi có ai bước lên.

Khi Khải Minh bấm chuông, cửa mở ra sau vài phút. Một người phụ nữ gầy, mặc áo len sẫm màu, khuôn mặt hốc hác. Đó là Lưu Huệ Dung, vợ của Hạo.

Căn nhà có mùi ẩm, phảng phất mùi giấy cũ và khói thuốc.

Khi vừa gặp Khải Minh Huệ Dung ánh mắt rung rung.

“Minh à? Cảm ơn anh đã đến... tôi… thật ra vẫn chưa tin được.”

Giọng cô khàn, mỏi mệt.

Khải Minh khẽ hỏi:

“Chị biết anh Hạo ở đâu suốt tháng qua không?”

Cô lắc đầu, ánh mắt nhìn xa như dõi về một khoảng trống nào đó.

“Anh ấy… không về nhà hơn một tháng rồi. Có gửi thư, cứ mỗi tuần một lá, nói đang theo đuổi một đề tài lớn về văn hóa cổ. Tôi không hiểu lắm. Trong thư không ghi địa chỉ, chỉ có dấu bưu điện từ khu Tsim Sha Tsui.”

“Và tuần trước?” – Minh hỏi.

“Không còn thư nào nữa. Rồi tin… tin anh ấy nhảy lầu đến. Tôi vẫn nghĩ sẽ có thư mới, nhưng...”

Giọng cô nghẹn lại, rồi im lặng.

Khải Minh xin phép được vào xem phòng làm việc của Hạo.

Căn phòng nằm cuối hành lang, cửa khép hờ, không ai đụng đến từ ngày anh ta mất. Khi Minh bật đèn, bụi bay mờ. Trên bàn là một đống giấy tờ, sách cũ và vài tập hồ sơ được bọc bằng vải nâu. Một chiếc máy đánh chữ vẫn còn dính mảnh giấy dang dở, hàng chữ cuối cùng bị dừng giữa chừng:

“…độ lệch của tuổi thọ không thể đo bằng năm, mà bằng số phận kẻ bị thay thế.”

Tim Khải Minh đập mạnh. Anh bắt đầu lật xem từng tập hồ sơ.

Không chỉ là vài mẩu tin rời, Hạo đã sưu tập cả một kho dữ liệu về thuật đoạt thọ - các ghi chép, bản sao từ thư viện cổ, bài dịch từ tiếng Hán cổ sang Anh, và cả hình minh họa nghi thức.

Dưới góc một tập giấy, Minh thấy hàng chữ Hạo viết bằng bút đỏ:

“Nếu thuật này tồn tại, người đầu tiên dùng nó không phải vua chúa mà là những kẻ biết buôn tuổi người khác.”

Trong ngăn kéo, Minh phát hiện một phong bì dày, in logo mạ vàng:

LIÊN MINH BÁT PHÚC – Eight Blessings Consortium

Bên trong là thư mời, nội dung đánh máy bằng tiếng Anh pha Hán tự, ký tên Trần Lương Hòa, Giám đốc điều hành.

“Thưa ông Trần Gia Hạo,

Liên minh chúng tôi rất vinh dự được mời ông tham dự loạt bài viết về nghi lễ cầu thọ truyền thống – dự kiến đăng trên tạp chí ‘Oriental Culture Review’.

Tập đoàn chúng tôi mong muốn khôi phục và giới thiệu lại các nghi thức văn hóa Trung Hoa cổ, đặc biệt là Lễ Tế Thọ và Pháp Mượn Mệnh, nhằm tôn vinh sự trường thọ và phúc đức. Chúng tôi cam kết hỗ trợ toàn bộ chi phí ăn ở trong thời gian nghiên cứu tại khu nghỉ dưỡng riêng của tập đoàn tại Tai Po.

Trân trọng,

Trần Lương Hòa

Chủ tịch Liên minh Bát Phúc.”

Cuối thư, có dòng viết tay bằng mực đen:

“Buổi lễ sẽ được cử hành vào ngày 23 tháng 6. Đây là dịp chỉ dành cho người được chọn.”

Khải Minh cảm thấy lạnh sống lưng.

Ngày 23 tháng 6 — đúng một ngày trước khi Hạo chế/t.

Trong ngăn tủ cuối cùng, anh tìm thấy một tập tài liệu đánh máy cũ, gáy nứt. Trang bìa ghi:

“Báo cáo nghiên cứu – Nghi thức Đoạt Thọ và những trường hợp lịch sử.”
Tác giả: Lưu Thiên Hạo, khoa Tôn giáo học, Đại học Bắc Kinh – 1936.

Minh mở ra: những dòng chữ đánh máy xen lẫn chú thích viết tay kể lại tên thật của các nhân vật từng “sống vượt thời đại” - một quan lại triều Minh có ba hộ tịch khác nhau, một hoàng phi bị xử chế/t hai lần trong sử ký, và một thương nhân ở Nam Xương tồn tại qua gần trăm năm với cùng gương mặt trong tranh khắc gỗ.
Cạnh đó là đoạn chú thích Hạo viết thêm bằng bút chì:

“Nếu đây chỉ là huyền thoại, tại sao dấu hiệu của cùng một nghi lễ vẫn xuất hiện qua nhiều thời đại?”

Khải Minh hít sâu. Tim anh đập nhanh hơn, bàn tay run nhẹ khi cho từng tập tài liệu vào túi da.
Trước khi ra về, anh quay lại, nhìn Huệ Dung đang đứng ở cửa, tay xoắn chặt vạt áo len.

“Chị Huệ Dung,” anh nói, giọng trầm nhưng gấp. “Nếu có ai hỏi về hôm nay, hay về phòng làm việc này, xin chị đừng nói gì cả. Có thể sẽ có người đến – và họ sẽ tìm cách vào nhà bằng đủ lý do. Nếu chị muốn biết sự thật về chồng mình, hãy giữ kín tất cả.”

Cô nhìn anh, đôi mắt mờ nước:

“Anh… anh có biết chuyện gì đã xảy ra với anh ấy không?”

Khải Minh khẽ lắc đầu:

“Chưa. Nhưng tôi sợ rằng, Trần Gia Hạo có liên hệ với ai đó nên mới bị kéo vào những việc này”

Anh bước nhẹ ra hành lang, kéo mũ trùm lên đầu rồi đi khuất nhanh sau hành lang.

Vài tuần sau đó Khải Minh không về nhà, anh biết kiểu gì cũng bị để ý đến nên anh đã xin ở nhờ một căn nhà của người quen trong khu Cửu Long Thành Trại. đây là ổ tội phạm nhưng cũng là nơi an toàn nhất Hồng Kông, nếu biết cách tìm kiếm sự bảo kê.

Sau mấy tuần ngập trong tài liệu, Khải Minh tìm thấy một cái tên quen thuộc trong bản báo cáo tốt nghiệp - Giáo sư Trương Thiệu Khang, chuyên gia khảo cổ học tôn giáo, hiện giảng dạy tại Viện Khảo cổ Bắc Kinh, tên ông xuất hiện với vai trò hướng dẫn nghiên cứu.
Trương là người từng hợp tác với anh trong một bài phóng sự về cổ mộ Giang Nam. Ông vốn khô khan, không tin chuyện tà thuật. Nhưng khi Khải Minh nhắc đến hai chữ “Đoạt Thọ”, giọng ông thay đổi, khẽ khàn đi:

“Cậu nghe chuyện này ở đâu?”

“Tôi đọc trong một tập tài liệu niêm phong, và… có người bạn từng nhắc đến.”

“Cậu lấy đâu ra bản báo cáo nghiên cứu?”

“chỉ là một bản sao cháy xém thôi” Khải Minh đáp.

Trương im lặng giây lát rồi mở ngăn bàn, lấy ra một hồ sơ cũ bọc vải:

“Tôi từng nghiên cứu một ghi chép liên quan. Đa số chỉ là dị đoan… nhưng một phần của nó lại trùng khớp với các hiện vật mà chúng tôi tìm thấy ở Sơn Tây. Cậu có chắc muốn nghe chứ?”

Khải Minh gật đầu.

Giáo sư mở hồ sơ, từng trang giấy vàng úa, mép rách:

“Nghi thức này được gọi là ‘Thập Nhãn Đoạt Thọ’ – bắt nguồn từ cuối triều Minh, thời điểm Đạo giáo cung đình suy tàn và các thầy pháp tư nhân nổi lên. Nó đòi hỏi một điều kiện khắc nghiệt: phải có hai người sinh cùng ngày cùng tháng, để mệnh khí tương thông.”

Ông chỉ vào sơ đồ trên giấy: một hình người cúi trước gương, và một vòng bùa được khắc thành ký tự “寿” (thọ).

“Bùa Đoạt Thọ được viết bằng mực chu sa và dầu ngải, bên trong vẽ một bức hình tiên ông và một con quỷ, tôi chưa tìm hiểu được nguồn gốc của con quỷ này.

Sau đó bùa này bị đốt thành tro, hòa vào rượu cho người bị chọn uống. Khi uống, họ vô thức mang trong mình phần ‘mệnh khóa’. Tiếp đó, người hành lễ phải khiến nạn nhân rơi vào trạng thái chối bỏ sinh mệnh của chính mình – bằng sợ hãi, tr/a tấ/n tinh thần, hoặc những ám thị kéo dài đến khi họ chỉ muốn chế/t.”

Trương lật sang trang khác, giọng trầm hơn:

“Và nghi thức chỉ hoàn tất khi nạn nhân tự kết liễu bằng tay chính họ - hoặc dưới lời xúi khiến của người thực hành. Cái chế/t đó mới được xem là ‘tự nguyện trả mệnh’. Trong suốt quá trình, tấm gương có mười con mắt phải được đặt phía sau nạn nhân. Người hành lễ mặc kín toàn thân, để gương chỉ phản chiếu hình ảnh của kẻ bị đoạt. Khi nạn nhân tắt thở, lá bùa Sinh Mệnh được dán lên gương, và người hưởng thọ chỉ cần đứng sau đó, hít ba hơi, sẽ nhận phần dư niên.”

Khải Minh nắm chặt tay, không biết mình đang nghe một câu chuyện dân gian hay cách thức giết người được nguỵ trang bằng nghi lễ.

“Thầy nói có bằng chứng nào về tấm gương đó không?”

Trương im lặng một lúc rồi mở tủ sắt, lấy ra một bức ảnh đen trắng, mờ và xước:

“Đây là thứ chúng tôi giữ ở Bảo tàng Quốc gia Bắc Kinh. Một tấm gương đồng khắc mười con mắt hình xoắn ốc, xuất xứ từ bộ sưu tập của một địa chủ tên Tôn Húc Lâm, chế/t năm 1894. Dân trong vùng kể ông ta sống đến 248 tuổi, nhưng dưới những cái tên khác nhau.”

Khải Minh nhìn bức ảnh. Mặt gương mờ, nhưng rõ ràng những con mắt như đang chuyển động quanh tâm xoắn.

Vài ngày sau, nhờ thẻ nhà báo, và lời giới thiệu của giáo sư Trương, Khải Minh có được giấy phép vào kho cổ vật của bảo tàng.

Tấm gương được đặt trong một buồng kính riêng, che bằng vải đen, có biển ghi:

“Hiện vật không trưng bày – hạn chế tiếp xúc.”

Người phụ trách khu vực, một ông lão gác bảo tàng, nói nhỏ khi họ đứng trước buồng kính:

“Thứ này đem về từ Sơn Tây năm 1952. Ngày nào cũng phải che vải. Hễ để lộ ra, nhân viên trực ca lại ốm – không sốt, không bệnh, chỉ kiệt sức rồi xin nghỉ.”

Khải Minh ngẩng nhìn tấm vải đen, nó im lìm nhưng trông cực kì đáng sợ.
Không khí trong phòng dày đặc, như hút hết oxy.

“Thầy Trương nói còn một phiên bản khác của tấm gương này?”

Ông lão gật đầu:

“Đúng. Cùng thời điểm ấy, bảo tàng nhận được hồ sơ nói rằng còn một cặp. Một chiếc ở đây, chiếc còn lại… bị mất tích khi chuyển về Bắc Kinh. Người phụ trách vận chuyển sau đó cũng biến mất không để lại dấu vết. Họ chỉ tìm thấy chiếc xe tải cháy rụi bên ngoài đường.”

Khải Minh ghi vội vào sổ tay, tim đập mạnh.

Một phiên bản mất tích – rất có thể liên quan đến nghi thức truyền thống của Liên Minh Bát Phúc.

Tất cả bắt đầu nhập thành một câu truyện.

Anh nhìn quanh phòng, ánh đèn huỳnh quang nhấp nháy.

Trong khoảnh khắc tấm vải đen khẽ lay, Khải Minh thoáng thấy một thứ gì đó trong gương, không phải hình ảnh phản chiếu của anh.

Anh lùi lại, mồ hôi lạnh toát.

Tiếng ông lão bảo vệ vang lên phía sau:

“Đừng nhìn lâu, cậu nhà báo à.”

Khải Minh rời khỏi bảo tàng khi trời Bắc Kinh đã tối.

Trong túi áo, cuốn sổ tay ướt đẫm mồ hôi.

Gió đầu đông thổi qua, mang theo cảm giác ai đó đang đi song song bên cạnh.

Một ý nghĩ hiện lên, dường như mọi thứ đã rõ ràng.

Chiếc gương thứ hai – Liên minh Bát Phúc đang giữ nó.

Và có lẽ… chính nó đã phản chiếu Trần Gia Hạo.

Lâm Khải Minh biết rằng nếu đi theo con đường hợp pháp, anh sẽ chẳng bao giờ chạm được vào sự thật.

Đêm đó, trong phòng biên tập tối om, anh lặng lẽ mở ngăn kéo, lấy tờ giấy tiêu đề “South China Gazette”.

Bút sắt trong tay anh run nhẹ khi ký giả chữ ký của Giám đốc tòa soạn Trịnh Minh Hào, rồi đóng lên đó con mộc đỏ, mực còn ướt, in rõ ràng bốn chữ:

GIẤY PHÉP PHÓNG VIÊN ĐẶC BIỆT.

Và một thẻ cảnh sát giả, thứ đồ nghề “ngầm” không thể thiếu của phóng viên.

Anh biết, chỉ cần một người trong tòa soạn phát hiện, anh sẽ mất việc – có thể mất luôn cả tự do.

Nhưng Trần Gia Hạo không thể chế/t vô nghĩa.

Tại đồn cảnh sát Tsim Sha Tsui

Cảnh sát trực ban là một người đàn ông mập, áo sơ mi mở hai nút, mùi thuốc lá lẫn cà phê đậm.

Khải Minh trình giấy phép, giọng bình thản:

“Tôi cần xem lại hồ sơ vụ án Trần Gia Hạo.”

Người cảnh sát liếc qua giấy, nhếch môi:

“Vụ việc xảy ra ở tập đoàn tư nhân, không có điều tra hình sự. Vụ án của anh ta đã đình chỉ. Không có thông tin cho báo chí.”

“Ít nhất cho tôi xem biên bản pháp y?”

“Không có lưu.”

Khải Minh cố giữ giọng bình tĩnh, nhưng ngón tay anh siết chặt đến trắng bệch.
Cảnh sát cuối cùng chỉ nói thêm một câu, nửa thật nửa đe dọa:

“Tốt nhất đừng hỏi thêm. Anh ta… đã tự kết thúc. Chúng tôi không muốn thêm người khác làm theo.”

Ba giờ chiều hôm sau, tại một quán trà gần cảng Mong Kok, Khải Minh ngồi chờ.
Một người đàn ông trung niên bước vào – áo vest xám, mặt nghiêm nghị. Đó là Lưu Vĩ An, bạn đồng niên của Khải Minh thời đại học, hiện làm thanh tra cấp phó của khu Tsim Sha Tsui.

Khải Minh ngồi ngay đằng sau Vĩ An, ra vẻ không liên quan tới nhau.

Khải Minh không nói nhiều, anh đã đặt trước ở bàn Vĩ An một phòng bì dày.

“Tôi cần một buổi phỏng vấn riêng. Không ghi âm. Anh chỉ cần gật hoặc lắc đầu.” Minh nói khẽ.

Vĩ An nhìn phong bì, im một lúc, rồi gật đầu.

Hai người ngồi trong góc khuất, ánh nắng phản chiếu qua tấm kính, che khuất gương mặt.

Khải Minh mở sổ, giọng thấp, rõ từng chữ.

“Liên minh Bát Phúc có tổ chức các nghi lễ bí mật trong sòng bạc Golden Crane?”

Vĩ An gật.

“Nghi lễ ấy liên quan đến việc kéo dài tuổi thọ?”

Gật.
“Trước đây có báo cáo về những phạm nhân chế/t bất thường trong tù có phải liên quan đến các nghi lễ này?”

Gật.

“Anh có biết vì sao gần đây tình trạng các phạm nhân chế/t giảm đi nhiều không?”
Lắc đầu.

“Nhưng những người t/ự t/ử lại tăng lên phải không?”

Một cái gật chậm rãi.

“cảnh sát đã cung cấp thông tin cho họ?”

Im lặng. Rồi gật rất nhẹ.

Khải Minh cảm thấy má/u dồn lên tai. Anh hỏi tiếp, giọng gần như khàn:

“Anh có từng thấy không?”

Vĩ An nuốt khan, rồi lắc đầu. nhưng cơ thể của anh ta rung nhẹ.

“Có phải… nghi thức ấy dùng một tấm gương đồng, khắc mười con mắt?”

Vĩ An giật mình. Tay anh run lên, mắt mở to. Một giây sau, anh gật mạnh, rồi cúi gằm xuống, thì thầm:

“Làm ơn… đừng nói tôi nói gì cả. Họ có người trong lực lượng. Cậu không hiểu đâu.”

Khải Minh đóng sổ, rút ra bao thuốc, tay không ngừng run. Anh không hút, chỉ nhìn làn khói của người đối diện bay nghiêng trong ánh sáng vàng đục của quán trà.

Những gì anh nghi ngờ bấy lâu – giờ đã được xá/c nhận.

“anh đã xóa bỏ mọi thông tin liên quan với tôi rồi chứ”

Gật!

“Anh có muốn giúp tôi thêm gì không? Nể tình anh em cũng như tôi đã coi mẹ anh như mẹ mình?” Khải Minh cố gắng khai thác thêm một chút.

“Số tiền này sẽ dùng cho mẹ của tôi trị bệnh, sau hôm nay tôi không quen biết gì anh, nếu anh làm gì đó liều lĩnh….tôi khuyên anh nên từ bỏ nếu không, chúng ta sẽ gặp nhau ở “bàn” thẩm vấn hoặc tòa án.” Vỹ An trả lời, nhấn mạnh cách bất thường từ “bàn”

Khải Minh cũng gật đầu.

Vỹ An đi ra trước, Khải Minh ra sau nhưng bàn chỗ Vỹ An có một tờ giấy nhỏ ghi:

“Chúng tôi thường đến kiểm tra tình trạng của nạn nhân cách bất chợt thường vào lúc 23h tối, hãy đến sớm”

Tối hôm đó, trong căn phòng, Khải Minh trải tất cả giấy tờ ra bàn: thư mời, bản nghiên cứu, hình ảnh tấm gương mười mắt, và sổ tay phỏng vấn.

Mọi đầu mối đều dẫn đến cùng một nơi: sòng bạc Golden Crane.

Và nếu Hạo chế/t ở đó… thì câu trả lời cũng nằm trong đó.

Anh rút ra một tấm thẻ cảnh sát giả, thứ này đã bao bọc anh trong vô số vụ điều tra. Giờ đây trong đầu anh là một kế hoạch điên rồ.

“Mình đã đi quá xa để quay lại rồi.”

Anh khoác áo, cài khuy, giấu thẻ cảnh sát vào ví, bước ra ngoài.

Trời đêm Hồng Kông đặc quánh sương, đèn neon hắt lên mưa như má/u chảy.
Ở cuối con đường Nathan, bảng hiệu Golden Crane Casino sáng lên rực rỡ — mười ánh đèn trắng xếp thành hình vòng xoắn, giống hệt mười con mắt trên tấm gương đoạt thọ.

Khải Minh siết chặt quai túi, nơi cất cuốn sổ ghi chú, rồi thì thầm:

“Được thôi, Hạo. Giờ thì đến lượt tôi nhìn thấy cái mà cậu đã thấy.”

Và anh bước vào màn đêm, nơi ánh sáng mười con mắt đang đợi.

Sòng bạc Golden Crane vẫn sáng rực dù đã quá nửa đêm.

Ánh đèn neon xanh đỏ phản chiếu lên mặt đường ướt, mờ như má/u khô trên kính.
Lâm Khải Minh siết chặt thẻ cảnh sát giả trong túi áo, bước qua cánh cửa kính dày.

Bên trong, mùi khói thuốc, nước hoa rẻ tiền và tiền mặt trộn lẫn thành thứ hương nồng nghẹt thở.

Anh ghé qua quầy mua một thẻ VIP, đây là thứ giúp anh có thể lẩn trốn nhanh trước khi bị phát hiện.

Xong việc, anh tiến thẳng đến quầy quản lý - gã đàn ông béo tròn, đeo cà vạt đỏ, mắt như cá chế/t.

“Tôi là điều tra viên Đồng Mạnh, phụ trách khu Tsim Sha Tsui.”

Anh chìa thẻ ra, giọng dõng dạc. “Tôi đến để ghi chép lại hồ sơ về Trần Gia Hạo. Và thi thể của anh ta.”

Gã quản lý cau mày, nhìn anh từ đầu đến chân.

“Tôi không nhớ có thông báo nào như vậy.”

Khải Minh nghiêng người, hạ giọng nhưng rắn như thép:

“Chúng tôi cần phải thông báo để đến đây à, anh thấy đấy tôi không mặc đồng phục. Chỉ là thỏa thuận giữa chúng ta thôi, xong việc có lẽ tôi sẽ ở lại đánh bạc một chút”

Anh ngừng một lát, nhìn thẳng vào mắt gã.

“Tôi sẽ không chạm vào bất cứ thứ gì. Tôi chỉ cần xá/c nhận tình trạng của Trần Gia Hạo, vì anh ta là nhà báo. Vụ này mà lộ ra, Golden Crane có lẽ không còn sáng thêm đêm nào nữa.”

Sự tự tin và cách dùng đúng từ ngữ khiến gã quản lý khựng lại. Một giây im lặng nặng nề.

Rồi hắn nói khẽ:

“Các anh đánh giá thấp chúng tôi rồi, hôm nay anh đến hơi sớm.”

“Tôi nói rồi, tôi sẽ cần thời gian để đánh bạc” Khải Minh nhếch mép.

“Thế thì nhanh lên” gã nói rồi bước ra dẫn đường.

Thang máy lên chậm, tiếng bánh răng kêu lạch cạch.

Cánh cửa mở ra, mùi hóa chất hăng sộc vào mũi.

Phòng dài, đèn mờ, dãy tủ inox sáng lấp lánh. Ở cuối hành lang là một bể chứa bằng thủy tinh, dung dịch bên trong sủi bọt, màu xám đục.

“Đây là nơi chúng tôi… lưu trữ. Chỉ là quy trình kỹ thuật thôi,” gã quản lý nói, giọng bình thản.

Khải Minh tiến lại gần. Trong chất lỏng đặc quánh ấy, anh thấy thứ gì đó từng là con người: những mảnh da, phần tóc, Tay anh ta đeo một chiếc nhẫn mà anh nhận ra là của Hạo”

“Anh ta tự sát thật à.” Khải Minh nói khẽ.

“Không, hắn ta rớt khỏi lầu khi đang lẫn trốn, hắn đã phá hỏng nghi thức. thế nên chúng tôi ngâm hắn vào đây, Đạo Sĩ muốn dùng hắn cho việc khác” Gã quản lý giải thích.

AAAA..

Một tiếng thét chói tai vang lên, rít lên như bị xé khỏi cổ họng con người.

Khải Minh nhìn hắn:

“Ai trong đó?”

“Không liên quan đến anh,” – gã đáp, lùi nửa bước.

“Tôi cần ghi nhận tình trạng của nạn nhân để báo cáo.”

“Không được phép.”

Gã vừa quay người, Khải Minh đã rút dùi cui, quật mạnh. Tiếng kim loại va vào xương, gã gục xuống không kịp kêu.

Anh kéo cửa phòng bên cạnh.

Mùi khét của dây điện và má/u tươi tràn ra.

Căn phòng tối, chỉ có ánh sáng mờ mờ hắt lên từ một tấm gương đen dựng đứng ở góc, trên mặt khắc mười con mắt xếp theo hình xoắn ốc.

Trước gương, một cô gái bị trói chặt, miệng nhét giẻ, toàn thân rách rưới.

Một gã đồ tể trùm kín đầu đang cầm roi điện, tr/a tấ/n cô trong cơn điên.

Khải Minh không nghĩ. Anh gõ cửa nói dõng dạc.

“Cảnh sát đây, chúng tôi tới ghi nhận danh tính” Anh nói mà không biết mình nói gì?

“Danh tính gì ở đây” gã đồ tể bước ra, có lẽ sự hiện diện của cảnh sát không còn là điều bất thường nữa.

Vừa mở cửa, Khải Minh dùng ngay dùi cui đập mạnh vào gò má của hăn, cơn đau thấu trời khiến hắn la hét, thêm hai cú đánh mạnh nữa.

Gã đồ tể ngã xuống, bất tỉnh.

Anh gỡ giẻ khỏi miệng cô gái, cắt dây trói.

“Tôi là cảnh sát. Bình tĩnh. Tôi sẽ đưa cô ra ngoài.”

Cô run rẩy, đôi mắt đẫm nước.

Khi anh định kéo cô đứng dậy, ánh sáng từ tấm gương lóe lên.

Một cơn đau nhói dữ dội đâm xuyên đầu anh, khiến tầm nhìn méo mó.

Trong gương — không phải anh, mà là Trần Gia Hạo đang nhìn lại.

Sau lưng Hạo, hàng trăm gương mặt khác: già, trẻ, nam, nữ họ mặc trang phục đủ các niên đại - tất cả đều mở miệng, hét trong câm lặng.

Tiếng thì thầm vang trong đầu anh:

“Cậu đến rồi… giờ cậu biết chúng tôi ở đâu…”

Khải Minh quỵ xuống, ôm đầu.

Hơi thở lạnh lẽo quấn quanh cổ, một bàn tay đen đúa mọc ra từ miệng anh, bóp chặt khuôn mặt khiến Khải Minh không thể thở. Một khuôn mặt với con mắt đen kịt, miệng rách tới mang tai. Hắn nhìn anh chằm chặp, nở một nụ cười quái dị rồi nắm lấy chân anh lôi về phía tấm gương.

Anh hét lên, dồn hết sức vùng vẫy, vung dùi cui ném thẳng vào mặt gương.

Xoảng!

Gương vỡ tung, ánh sáng trắng nổ ra.

Tiếng xoảng thứ hai vang lên từ phía sau.

Anh quay lại - cửa sổ vỡ toang.

Cô gái đã biến mất sau cánh cửa sổ bể tan tành, chỉ còn tấm vải đen tung bay trong gió đêm.

Dưới đường, những tiếng la hét vang lên giữa ánh đèn sòng bạc, xen lẫn tiếng rên rỉ của tên đổ tể, có vẻ như hắn dần hồi tỉnh.

Tiếng báo động vang lên, chân người chạy rầm rập.

Khải Minh biết mình không còn thời gian.

Anh lao ra hành lang, men theo lối thang bộ, chạy xuống hai tầng.

Mùi hóa chất và khói điện cháy bám vào áo. Một cánh cửa thoát hiểm phụ hiện ran gay trước mắt, anh lấy hết lực đạp tung cánh cửa đó rồi chạy xuống cầu thang tiếp.

Ở tầng 16, anh thấy cánh cửa mở ra khu phòng VIP.

Không nghĩ ngợi, anh rút vé VIP mua từ trước, bước lẫn vào dòng khách sang trọng đang cười nói.

Âm nhạc, ly rượu, tiếng máy slot… tất cả đột ngột trở lại như thể tầng 18 chưa bao giờ tồn tại.

Chỉ vài phút sau, đội an ninh ào lên, bịt kín lối thang máy.

“hắn chạy theo lối thoát hiểm phụ” một tay nào đó hét lớn.

Anh cúi đầu, giả vờ say, lẫn vào nhóm người rời sòng bạc.

Khi bước ra khỏi cánh cửa kính, gió lạnh tạt vào mặt, anh mới biết mình vẫn còn sống.

Đằng kia cái xá/c bấy nhầy của cô gái khiến anh đau lòng.

Đêm đó, Khải Minh không về phòng trọ.

Anh viết một bức thư dài kèm toàn bộ tài liệu, hình ảnh và lời khai, gửi tới Sir David Trench, thống đốc Hồng Kông đương nhiệm.

Trong thư, anh chỉ viết một dòng ở cuối:

“Nếu ông đọc được điều này, tôi nghĩ Vương Quốc Anh cần biết đến sự thật về những tập đoàn lớn.”

Đêm đó, anh rời thành phố.

Anh quay trở lại đại lục qua ngả Thâm Quyến, giờ đây anh không thể dùng thân phận nhà báo mà di chuyển được.

Trước khi đi, anh gửi thêm một lá thư cho Lưu Huệ Dung, vợ của Hạo:

“Nếu chị còn yêu anh ấy, hãy rời khỏi Hồng Kông. Tôi đã chứng kiến xá/c của Hạo, anh ấy chế/t rồi…còn chị…chị cũng chạy đi.”

Không ai biết chuyện gì xảy ra sau đó.

Tập đoàn Liên minh Bát Phúc vẫn tồn tại, chỉ đổi tên và địa chỉ đăng ký.
Không có bài báo nào của Lâm Khải Minh được in ra.

Hộ chiếu của anh bị hủy sau khi rời Hồng Kông, không ai từng gặp lại anh ở Trung Quốc đại lục.

Một năm sau, một mẫu báo ngắn ở Bắc Kinh thông báo về điều tra vụ việc xâm phạm đồ cổ. người chịu trách nhiệm là một bảo vệ họ Đặng, vì bất cẩn khi vận chuyển nên làm đổ vỡ một số hiện vật trong đó có một tấm gương cổ thời nhà Minh. Đáng nói là các hiện vật này đang được làm hồ sơ bán đấu giá trong thời gian sắp tới.

Chẳng ai quan tâm đến mẫu tin ngắn vô giá trị này, ngoài Giáo sư Trương, người đang đốt hộ chiếu cũ của Lâm Khải Minh.

-HÃI-
*Nội dung độc quyền bởi Creepypasta Việtnam – theo dõi kênh để không bỏ lỡ những câu chuyện mới nhất👉

Address

New York, NY

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Creepypasta Việtnam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Creepypasta Việtnam:

Share