Người Học Đạo

Người Học Đạo Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🏻 Gió spa - 1302 quang trung - Tx ankhe

SỐNG TỈNH THỨC GIỮA QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI, CON ĐƯỜNG VƯỢT LÊN SỐ MỆNHTrong lời Phật dạy, đời người không do một thế lực v...
10/12/2025

SỐNG TỈNH THỨC GIỮA QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI, CON ĐƯỜNG VƯỢT LÊN SỐ MỆNH

Trong lời Phật dạy, đời người không do một thế lực vô hình nào sắp đặt. Định mệnh mà chúng ta thường nói thật ra chỉ là quả báo từ những hành động, lời nói và ý nghĩ của chính ta trong vô số kiếp, gọi là nghiệp.

Chính vì thế, nhìn lại quá khứ, không ít người rơi vào hối hận, tự trách, dằn vặt đến kiệt sức. Nhưng Đức Thế Tôn dạy:

“Những việc quá khứ đã làm, đừng để tâm hối hận nữa.”

Không phải vì quá khứ không quan trọng, mà bởi:

● Hối hận không thể thay đổi điều đã xảy ra.

● Chỉ có sám hối đúng pháp và làm mới trong hiện tại mới thật sự chuyển được nghiệp.

Quá khứ giống như mây tan, giống như lá vàng rụng xuống đất. Nó đã hoàn thành vai trò của mình. Nó chỉ trở nên có giá trị khi giúp ta tỉnh thức. Còn nếu cứ ôm nó mà đau khổ, thì chẳng khác nào buộc chân mình vào xiềng xích vô hình.

Đức Phật dạy: sát-na hiện tại là nơi duy nhất ta có thể tiếp xúc, chuyển hóa và bắt đầu lại.

Vì vậy hãy tập:

● Buông bỏ những sai lầm đã qua

● Không để mặc cảm đè nặng trái tim

● Không tự kết án bản thân suốt đời

Một cái cây đã héo úa, càng tưới nước càng mục nát. Quá khứ cũng vậy. Chỉ cần nhận biết nó từng là một phần của ta, rồi nhẹ nhàng buông cho nó tan vào gió.

Đức Phật dạy: “Mỗi sáng thức dậy là một ngày tái sinh.”

Khi xem ngày hôm nay là khởi điểm của con đường mới, ta mở ra ngay lập tức một tương lai khác. Không ai bị trói buộc bởi định mệnh cố định.

Nghiệp xấu tạo ra bằng tâm ý, thì nghiệp lành cũng có thể hóa giải bằng tâm ý.

● Hôm nay ta nghĩ thiện, tương lai sẽ sáng.

● Hôm nay ta nói lời lành, đời sống sẽ nhẹ nhàng.

● Hôm nay ta làm thiện, con đường sẽ đổi hướng.

Chỉ cần khởi tâm mới, số mệnh liền chuyển từ giây phút đó.

Phật dạy sám hối có ba phần:

1. Tự biết lỗi, thấy rõ sai lầm mà không đổ thừa.

2. Sinh tâm hổ thẹn, nhận ra sự bất thiện của hành vi.

3. Nguyện làm mới, không tái phạm, thay vào đó là những việc thiện lành.

Người biết sám hối thì nghiệp nhẹ.

Người biết sửa đổi thì nghiệp chuyển.

Người biết làm mới thì tương lai tự mở ra.

Thời Đức Phật có Vô Não (Angulimāla), kẻ từng giết hàng trăm người, xâu ngón tay thành chuỗi đeo trên cổ. Tội ác chất cao hơn núi.

Một ngày kia, Đức Phật tìm đến. Vô Não đuổi theo Ngài với ý định sát hại, nhưng chạy mãi không đuổi kịp. Hắn hét:

- Sa-môn! Dừng lại.

Đức Phật quay lại, quán chiếu và đáp: - Ta đã dừng từ lâu rồi. Chỉ có con chưa dừng.

Câu nói ấy xuyên thẳng vào tâm hồn tội đồ lạc lối. Từ đó, hắn tỉnh thức, quỳ xuống quy y và xin xuất gia. Nhờ sự chân thật tu tập, Vô Não chứng A-la-hán ngay trong đời đó.

Người tội sâu như biển còn chuyển được nghiệp, huống là chúng ta, những lỗi lầm nhỏ hơn rất nhiều.

Kết luận quan trọng của câu chuyện là:

- Không có con người nào không thể chuyển nghiệp, chỉ có người không chịu dừng lại và làm mới chính mình.

Dù quá khứ đen tối đến đâu, chỉ cần:

● Nuôi dưỡng tâm hướng thiện
● Giữ ý niệm lành trong từng khoảnh khắc
● Làm những việc nhỏ thiện lành
● Giữ gìn thân, khẩu, ý không làm ác

…thì ngay lúc ấy ta đang viết lại vận mệnh của chính mình.

● Nghiệp tốt hôm nay, phước báo ngày mai

● Tâm an hôm nay, số mệnh an lành ngày mai

Quá khứ hãy để nó yên nghỉ. Tương lai hãy khởi từ giây phút này.

Tâm biết sám hối là gốc chuyển nghiệp. Hành thiện là nhân mở ra vận mệnh mới.

Sám hối là cửa, Làm mới là đường, Thiện là ánh sáng dẫn lối.

Người sống được như vậy, dù từng sai lầm, cũng có thể bước lên con đường rộng mở, sáng trong và an lạc.

Một khi ta thật sự đổi tâm, đổi hành, định mệnh cũ sẽ tan như sương sớm dưới nắng.

Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm.

( Bài viết được chia sẻ từ facebook Thường Tàm Hư Thân )

Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn NghĩaTập 18Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh KhôngThời gian: Ngày 5 tháng 04 năm 2010Địa điểm: Hươn...
09/12/2025

Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa

Tập 18

Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Ngày 5 tháng 04 năm 2010

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang



Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem kinh bổn Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang mười bảy, hàng thứ sáu, xem từ hai chữ cuối cùng.

“Vô tướng giả, ly nhất thiết hư vọng chi tướng. Vô tướng tức ly tướng” (Vô tướng là lìa hết thảy các tướng hư vọng, vô tướng chính là lìa tướng). Mấy câu này, nói thật ra, cụ Hoàng đã giảng rất rõ ràng, chúng ta phải chú tâm đọc. Kinh dạy: “Thật Tướng vô tướng”, vô tướng là gì? Vô tướng là lìa hết thảy các tướng hư vọng. Do vậy, vô tướng và ly tướng có cùng một ý nghĩa, ly tướng là vô tướng. Hết thảy các tướng hư vọng là gì? Kinh Phật đã vô số lần dạy chúng ta: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”. Vì sao? Do hết thảy các hiện tượng đều là pháp sanh bởi nhân duyên, Trung Luận nói rất hay: “Nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không” (Pháp sanh bởi nhân duyên, ta nói nó là Không), “ngã” ở đây là đức Phật nói, trích dẫn lời Phật dạy. “Ly” là lìa như thế nào? Lìa chấp trước, chẳng chấp trước sẽ lìa. Chấp trước là chẳng lìa! Chớ nên chấp trước chúng (hết thảy các tướng), đừng nên phân biệt chúng. Đối với tất cả hết thảy các hiện tượng, chớ nên khởi tâm động niệm, quý vị sẽ lìa toàn bộ. Vì thế, không khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, người ấy thành Phật, vì sao? Đã lìa sạch sành sanh! Tướng có tồn tại hay chăng? Tướng tồn tại, tướng là huyễn tướng, tướng là pháp sanh diệt. Thật Tướng là chẳng sanh, chẳng diệt, Thật Tướng là nói theo Thể, còn tướng hư huyễn là nói theo hiện tướng (tướng được biến hiện), lớn thì như hư không, pháp giới; trọn khắp pháp giới hư không giới đều là một huyễn tướng.

Chúng ta đã học Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán, quý vị cũng rất dễ hiểu [những điều này]. Chân là gì? Chân là Thể, nhất thể. Thể là một, tự tánh thanh tịnh viên minh thể, đó là Chân. Vì sao là Chân? Huệ Năng đại sư lúc khai ngộ đã nói rất hay: Thể ấy “vốn tự thanh tịnh”, chưa hề bị ô nhiễm; nay có bị ô nhiễm hay không? Chẳng bị ô nhiễm, vĩnh viễn chẳng ô nhiễm, chẳng sanh, chẳng diệt. “Vốn tự trọn đủ”, câu này rất trọng yếu, trong Tịnh Tông gọi tự tánh thanh tịnh viên minh thể là Thường Tịch Quang Tịnh Độ, trong ấy, không có hiện tượng vật chất, mà cũng không có hiện tượng tinh thần, nhưng chẳng thể nói nó là không, vì sao? Vốn tự đầy đủ, thứ gì nó cũng chẳng thiếu, nhưng nó chẳng hiện tiền. Câu nói thứ tư của Huệ Năng đại sư là: “Vốn chẳng lay động”; nói cách khác, nó là định. Sáng hôm qua, đài truyền hình đến phỏng vấn tôi, họ có nói một câu: “Con người hiện thời thường nói ‘nhân định thắng thiên’, phải khai thác, phát triển thiên nhiên”. Nhân định thắng thiên, nói không sai, nhưng hiểu sai ý nghĩa rồi! Nhân định thắng thiên nên giảng như thế nào? Chính là câu thứ tư của Huệ Năng đại sư: “Nào ngờ tự tánh, vốn chẳng lay động”, đó là tự tánh vốn định. Nếu quý vị chứng đắc điều ấy, sẽ “thắng thiên”, thật đấy, chẳng giả tí nào! Chứ chẳng phải là nói con người chúng ta thông minh, trí huệ thì khoa học, kỹ thuật nhất định sẽ có thể chiến thắng thiên nhiên. Đừng nói thiên nhiên, ngay cả địa cầu còn chưa chiến thắng được! Địa cầu vừa chấn động đã chịu không nổi, làm sao quý vị có thể thắng nó? Một đại đô thị có mấy ngàn vạn người sống trong ấy, một trận động đất lớn là xong, mọi người đều biết chuyện này! Chưa thắng được trời! Nhưng tự tánh vốn định, nếu quý vị chứng đắc thì sẽ có thể thắng.

Câu cuối cùng: “Nào ngờ tự tánh, có thể sanh ra vạn pháp”. Câu “có thể sanh ra vạn pháp” và câu “vốn tự trọn đủ” trong phần trước là hai mặt thuận và nghịch. “Vốn tự trọn đủ” là ẩn, Phật pháp gọi đó là ẩn; “có thể sanh ra vạn pháp” là hiển, tức hiện hành. Tự tánh thanh tịnh viên minh thể giống như cái TV nay đang ở trước mặt chúng ta. Thể là gì? Thể là màn hình TV, cái gì cũng đều không có. Nó cái gì cũng đều không có, nhưng quý vị chẳng thể nói nó là không, vì sao? Nhấn nút một cái, hình ảnh sẽ xuất hiện. Hình ảnh xuất hiện, chẳng thể nói là nó có. Quý vị biết chân và vọng, màn hình là chân, hình ảnh là vọng, chân và vọng là nhất thể, vọng há có thể rời khỏi chân ư? Chẳng có cách gì rời khỏi, rời khỏi màn hình, các hình ảnh sẽ chẳng thể hiện ra được! Có chân nào chẳng ở trong vọng? Trong màn hình này, mỗi tấc vuông đều có hình ảnh, nhưng chân là chân, vọng là vọng, chân chẳng phải là vọng, vọng chẳng phải là chân, đúng hay không? Nói cách khác, chân là vọng, vọng là chân, chân và vọng là một, chẳng hai, đúng hay không? Cũng đúng! Quý vị hiểu rõ điều này! Do vậy, đức Phật đã nói: “Thật Tướng ly tướng”. Thật Tướng ly tướng tức là Thật Tướng vô tướng, Thật Tướng vô bất tướng, chúng là cùng một chuyện. Do vậy, xem TV mà biết xem thì sẽ là cảnh giới Hoa Nghiêm! Khi biết xem, có thể ngộ nhập tự tánh thanh tịnh viên minh thể, đấy là thành Phật; nhưng vấn đề là quý vị có hiểu hay không! Vì sao chúng ta không hiểu? Do lúc quý vị đang xem, bèn khởi tâm động niệm, có phân biệt, có chấp trước, cho nên quý vị chấp tướng. Do quý vị chấp tướng, nên chẳng phải là ly tướng, mà là chấp tướng. Chấp tướng là lục đạo phàm phu, trong Phật pháp nói “ly tướng là A La Hán”, chẳng phải là phàm phu! Người đạt được ly tướng sẽ chẳng còn chấp trước hết thảy các hiện tượng; tâm bình đẳng, sẽ vượt thoát lục đạo luân hồi, chứng quả A La Hán. Chẳng phân biệt, quý vị là Bồ Tát. Không khởi tâm, không động niệm, quý vị sẽ thành Phật. Ở đây, điều trọng yếu nhất là dạy chúng ta: Sau khi liễu giải chân tướng sự thật, đừng chấp trước nữa, phải thực hiện từ chỗ này!

Lục đạo xuất hiện như thế nào? Có thể sanh vạn pháp, lục đạo từ đâu mà có? Lục đạo từ chấp trước mà có. Tứ thánh pháp giới do đâu mà có? Phía trên của mười pháp giới là tứ thánh pháp giới, tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, do đâu mà có? Từ phân biệt mà có. Thật sự chẳng khởi tâm, chẳng động niệm thì mười pháp giới cũng không có, mười pháp giới bèn ẩn, chẳng hiển lộ nữa! Nhưng tập khí vô minh từ vô thỉ chưa đoạn, chẳng có cách nào buông tập khí xuống; do còn chưa buông xuống, cho nên còn có một cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Cõi Thật Báo Trang Nghiêm do đâu mà có? Bốn mươi mốt phẩm tập khí vô minh, tập khí trong ấy có dày hay mỏng khác nhau; vì thế, đức Phật chia thành bốn mươi mốt đẳng cấp. Tuy có bốn mươi mốt đẳng cấp, nhưng chẳng trở ngại quý vị mảy may! Vì sao? Quý vị đã không khởi tâm, không động niệm, chẳng cần phải quan tâm tới cái vô minh ấy, lâu ngày, nó sẽ tự nhiên chẳng còn nữa! Phải mất thời gian bao lâu? Kinh nói là ba A-tăng-kỳ kiếp, [tập khí phiền não] sẽ tự nhiên chẳng còn nữa. Sau khi không còn, đó là cõi Thật Báo Trang Nghiêm viên mãn hiện tiền, trở về tự tánh, chứng đắc Phật quả rốt ráo, chuyện là như vậy đó! Nói chung, phải hiểu rõ, minh bạch. Sau khi minh bạch, quý vị mới chịu buông xuống. Nguyên nhân khiến không chịu buông xuống là do chưa hiểu rõ chân tướng sự thật, nên mới có phân biệt, chấp trước. Đây là một chướng ngại rất lớn.

Nếu chẳng thật sự buông xuống, cả đời này, quý vị sẽ làm gì? Phật học, chẳng phải là học Phật. Người Phật học rất nhiều, người thật sự học Phật chẳng mấy! Học Phật là gì? Học Phật là buông xuống. Lúc tôi mới học, Chương Gia đại sư dạy tôi: “Thấy thấu suốt, buông xuống”, bắt đầu làm từ đâu? Thực hiện từ buông xuống. Quý vị có buông xuống được thì mới thật sự có thể thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt lại giúp quý vị buông xuống một tầng nữa. Từ Sơ Phát Tâm đến địa vị Như Lai là “thấy thấu suốt bèn buông xuống, buông xuống bèn thấy thấu suốt”; hai phương pháp này giúp đỡ lẫn nhau thành tựu từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai. Đến cuối cùng, buông luôn tập khí vô minh xuống, quý vị bèn thành Phật. Đó gọi là học Phật. Nếu chẳng phải dùng phương pháp thấy thấu suốt và buông xuống này, quý vị là Phật học. Phật học và học Phật là hai chuyện [khác hẳn nhau]! Phật học chẳng thể liễu sanh tử, không thể thoát khỏi tam giới; ngay cả niệm Phật vãng sanh vẫn phải buông xuống. Hễ có mảy may lưu luyến thế giới này, sẽ không bỏ xuống được, chẳng thể vãng sanh! Chẳng có thứ gì trên thế gian này có thể mang qua thế giới Cực Lạc được! Do vậy, thật sự cầu vãng sanh thì hết thảy mọi thứ ở nơi đây, thường nói là “thân, tâm, thế giới hết thảy đều buông xuống” thì mới có thể ra đi được!

Khó buông xuống nhất là thân tình, thứ này khó lắm! Phải thật sự thực hiện, thật sự mong liễu sanh tử, thoát tam giới trong một đời này thì phải bắt đầu từ đâu? Trước hết, phải nhạt bớt thân tình, “nhạt bớt” chẳng phải là bất hiếu với cha mẹ! [Nếu bất hiếu] thì quý vị đã phạm lỗi mất rồi! Quý vị phải thật sự thực hiện Đệ Tử Quy, Cảm Ứng Thiên, Thập Thiện Nghiệp, tuy thi hành nhưng lại chẳng chấp trước, tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần. Bên ngoài thực hiện vô cùng chu đáo, đó là gì? Bên ngoài thực hiện vô cùng chu đáo nhằm phổ độ chúng sanh, nêu gương tốt nhất cho người thế gian. Bên trong thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, đấy là nâng cao linh tánh của chính quý vị, mỗi ngày đều tương ứng với thế giới Cực Lạc, tương ứng với A Di Đà Phật. Quý vị thấy pháp xuất thế gian và pháp thế gian có cùng một Thể, ta xử sự đãi người tiếp vật, sinh sống, làm lụng chẳng khác gì kẻ khác, nhưng đối với người thế gian mà nói thì khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, hoàn toàn tùy thuận Pháp Tánh, điều này trọng yếu! Luân lý, đạo đức đều do Tánh Đức tự nhiên lưu lộ. Nếu quý vị chấp tướng, chấp tướng sẽ phải tu thiện. Đoạn ác, tu thiện! Chẳng chấp tướng sẽ thành Phật, thành Bồ Tát. Tuy chẳng chấp tướng, nhưng trọn chẳng lìa tướng. Mọi người mỗi ngày đều xem TV, hãy nghĩ tới tỷ dụ của tôi, đối với màn huỳnh quang và sắc tướng hiện trong ấy, quý vị thường nghĩ đến điều ấy, chúng có lìa hay không? Chẳng lìa, chẳng tức. Màn hình là thật, vĩnh viễn chẳng đổi; nhưng tướng cảnh giới trong ấy, tức là tướng được hiện ra sẽ biến đổi trong từng sát-na, chẳng ngưng dứt. Tốc độ biến đổi nhanh như thế nào? Mọi người đều có kiến thức thông thường này, chúng ta hình dung nó [biến đổi trong] từng sát-na, chẳng phải là từng giây một! Nó biến hóa trong từng một phần trăm giây, một phần ngàn giây, một phần vạn giây.

Nhưng vũ trụ là tướng được hiện giống như hình ảnh hiện ra trên màn hình, tốc độ nhanh như thế nào? Di Lặc Bồ Tát cho chúng ta biết trong một giây biến hóa bao nhiêu lần? Một ngàn hai trăm tám mươi triệu lần. Nguyên văn trong kinh điển là: Trong một cái khảy ngón tay, có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Trong một cái khảy ngón tay có bao nhiêu? Ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Trăm ngàn là mười vạn, ba mươi hai ức nhân với mười vạn là ba trăm hai mươi triệu, trong một khảy ngón tay có ba trăm hai mươi triệu. Chúng ta khảy ngón tay [thì trong một giây] có thể khảy bốn lần, tôi tin có người còn khảy ngón tay nhanh hơn tôi. Khảy tới năm lần, sẽ là một ngàn sáu trăm triệu, trong một giây, chứ không phải là một phần vạn hay một phần mười vạn giây, chẳng phải! Biến hóa ở trong ấy, cứ một niệm là một tướng được hiện; niệm trước vừa diệt, niệm sau lại sanh. Do vậy, chúng ta thấy những hiện tượng này, sự thật là gì? Là “tương tự tương tục tướng” (tướng gần như liên tục), chúng chẳng phải là thật sự liên tục, mà là tương tự liên tục. Chúng biến hóa, nghe theo ai chỉ huy? Trong kinh, đức Phật đã dạy: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”, tâm tưởng chỉ huy chúng (các hiện tượng ấy). Tâm tưởng thiện thì các tướng được hiện sẽ là lành. Tâm tưởng ác, tướng được hiện là ác. Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng! Chúng ta mong bản thân tướng mạo đẹp đẽ, thân thể khỏe mạnh, quý vị nghĩ đến điều lành cho nhiều bèn đạt được! Bởi lẽ, tâm thái quyết định tướng mạo và sức khỏe của chúng ta. Tâm thái, chứ chẳng phải thứ gì khác!

A DI ĐÀ PHẬT 🙏🙏🙏

Lão Pháp Sư Tịnh Không chủ giảng

Hoan nghênh phổ biến, công đức vô lượng !

" NGUYỆN ĐEM CÔNG ĐỨC NÀY
TRANG NGHIÊM PHẬT TỊNH ĐỘ
TRÊN ĐỀN BỐN ÂN NẶNG
DƯỚI CỨU KHỔ TAM ĐỒ
NẾU CÓ AI THẤY NGHE
ĐỀU PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
HẾT MỘT BÁO THÂN NÀY
ĐỒNG SANH CỰC LẠC QUỐC "

Phương cách Niệm Phật 🙏🏻🙏🏻🙏🏻* Người niệm Phật hãy nên cung kính, chí thành, từng câu từng chữ trong tâm niệm cho rõ ràng...
29/11/2025

Phương cách Niệm Phật 🙏🏻🙏🏻🙏🏻

* Người niệm Phật hãy nên cung kính, chí thành, từng câu từng chữ trong tâm niệm cho rõ ràng, rành mạch, miệng niệm cho rõ ràng, rành mạch.

Nếu làm được như thế, dẫu chẳng thể hoàn toàn không có vọng niệm, nhưng cũng chẳng đến nỗi quá đáng. Có lắm kẻ chỉ mong lẹ, mong nhiều, thuận miệng niệm ào ào, cho nên không có hiệu quả! Nếu có thể nhiếp tâm thì mới gọi là người niệm Phật thật sự.

Đại Thế Chí Bồ Tát đã ví dụ “như con nhớ mẹ”, trong tâm con chỉ nghĩ đến mẹ, những cảnh khác đều chẳng phải là chuyện trong tâm chính mình. Vì thế có thể cảm ứng đạo giao.
• (Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, quyển Thượng, Thư trả lời sư Hựu Chân và cư sĩ Giác Tam)

PHẬT DƯỢC SƯ, ÁNH LƯU LY ĐỘ ĐỜI, HẠNH NGUYỆN VĨ ĐẠI KHÔNG THỂ NGHĨ BÀNHư ThânLưu Ly Quang chiếu sáng đời,Xua mê tối tăm,...
20/11/2025

PHẬT DƯỢC SƯ, ÁNH LƯU LY ĐỘ ĐỜI, HẠNH NGUYỆN VĨ ĐẠI KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Hư Thân

Lưu Ly Quang chiếu sáng đời,
Xua mê tối tăm, hóa khổ ưu.
Dược Sư từ bi nâng đỡ muôn loài,
Niệm danh Ngài, an vui khắp nơi.

Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

Trong vô lượng pháp môn của chư Phật, giáo pháp của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai luôn được tán thán là con đường chữa lành khổ đau nơi thân và tâm, giúp con người thoát bệnh, thoát nghiệp, đủ phước, đủ thọ, đủ trí, đủ duyên vượt biển sinh tử. Ở phương Đông, nơi “Tịnh Độ Lưu Ly Trang Nghiêm”, Đức Thế Tôn ấy từng phát mười hai đại nguyện, vì chúng sanh mà mở ra con đường hạnh phúc, giàu đủ, thọ mạng dài lâu, tâm ý thanh tịnh và cuối cùng thành tựu Bồ-đề.

Nếu Tịnh Độ phương Tây của Đức Phật A Di Đà là cõi tiếp dẫn những ai phát tâm niệm Phật cầu vãng sanh, một cảnh giới an lạc dành cho bậc tu hành hướng đến giải thoát tối hậu, thì Dược Sư Tịnh Độ ở phương Đông, theo Kinh Dược Sư và Kinh Quán Dược Sư, lại đặc biệt nhấn mạnh đến con đường chuyển hóa ngay trong hiện đời.

Tịnh Độ của Đức Dược Sư không đặt trọng tâm vào việc chờ đến một kiếp sau xa xăm, mà đưa giáo pháp vào từng khổ đau, từng bệnh nạn, từng vướng mắc rất thật của kiếp người. Những công đức và bản nguyện của Ngài hướng đến:

• Cứu khổ ngay trong đời này, đem sự an ổn vào đúng lúc con người cần đến.

• Hóa giải bệnh nghiệp, cả thân bệnh lẫn tâm bệnh, vốn là gánh nặng muôn đời của chúng sinh.

• Chuyển mê thành ngộ, giúp người hiểu rõ nhân duyên, nhận ra ánh sáng trí tuệ ẩn tàng trong chính mình.

• Đem an lành vào nhân gian, khiến cuộc sống này trở thành nơi có thể tu tập, dưỡng nuôi thiện tâm và tạo phước ngay trong từng việc nhỏ.

• Tăng trưởng phước đức để bước lên đạo quả, bởi khi thân tâm được ổn định, con đường tu tập mới có điều kiện nở hoa.

Vì thế, niệm danh hiệu Đức Dược Sư không chỉ dành cho việc cầu siêu độ vong linh, mà còn là pháp môn sâu rộng để cầu an, cầu tăng phước thọ, cầu bình an trong thân, tâm, gia đạo, cầu tài lộc chân chánh, cầu sự nghiệp hanh thông, cầu con cái, hay chuyển hóa các mối duyên lành, dữ trong đời. Tất cả đều nằm trong phạm vi “lợi ích chẳng thể nghĩ bàn” mà chư kinh đã khẳng định.

Niệm Dược Sư không chỉ hướng đến tương lai, mà còn làm sáng chính hiện tại; không chỉ cầu giải thoát mai sau, mà còn giúp thân tâm vững vàng trên từng bước của cuộc đời.

I. Ánh sáng Lưu Ly: Biểu Tượng Của Trí Tuệ Và Sự Chữa Lành Toàn Diện

Trong kinh tạng, thân của Đức Phật Dược Sư được mô tả “ánh sáng trong suốt như lưu ly, trong ngoài đều sáng rực, chiếu khắp mười phương”. Hình ảnh “Lưu Ly Quang” không chỉ là một sắc màu nhiệm mầu, mà là biểu tượng của sự tinh khôi, thanh tịnh, không ngăn ngại, như trí tuệ chiếu soi đến tận nơi sâu kín nhất của tâm thức.

Ánh sáng ấy hàm nghĩa:

• Trí tuệ phá tan mê lầm: soi rọi bản chất của ngũ uẩn, duyên sinh, giúp người thấy rõ nguồn gốc của khổ.

• Từ bi làm tan khổ đau: ôm trọn những lo toan đời sống, như dòng nước mát làm dịu nội tâm nóng bức.

• Thanh tịnh làm tan cấu uế trong tâm: rửa sạch những đục ngầu của tham, sân, si.

• Sáng rực soi đến cùng tận nghiệp nặng: không nơi nào mà ánh sáng Lưu Ly không chạm tới, kể cả góc tối sâu nhất của nghiệp lực nhiều đời.

1. Thân bệnh chỉ là bề mặt, tâm bệnh mới là gốc

Phật dạy: bệnh của con người không chỉ là bệnh ở thân thể, mà còn có vô số bệnh thuộc về tâm thức:

• Bệnh tham: luôn thấy thiếu, muốn thêm, không bao giờ đủ.

• Bệnh sân: nóng nảy, đối kháng, làm khổ mình và người.

• Bệnh si: mê lầm, không hiểu nhân quả, không thấy con đường.

• Bệnh nghiệp: quả báo từ hành vi và tâm niệm quá khứ.

• Bệnh vì chấp ngã: bám chặt “cái tôi”, tạo ra vô số đau khổ.

• Bệnh do oan gia trái chủ: những kết nghiệp sinh từ các đời trước.

• Bệnh do tâm không thanh tịnh: lo âu, phiền não, stress, loạn động, mất ngủ… khiến thân thể suy giảm theo.

Những căn bệnh này, nếu không chữa tới gốc, dù có thuốc thang cũng chỉ giảm triệu chứng, không diệt được nguồn cơn.

2. Đức Dược Sư chữa lành từ tận gốc rễ

Phật Dược Sư là vị “Y Vương” không chỉ trị thân bệnh, mà còn trị tâm bệnh, vốn là nguyên nhân tạo ra khổ đau và nghiệp chướng.

Sự chữa lành của Ngài bao gồm:

• Chữa bệnh từ tâm, giúp người hiểu rõ nguyên nhân của khổ, từ đó đoạn trừ phiền não.

• Chuyển hóa nghiệp, nhờ sự sám hối, tu sửa và năng lực bản nguyện của Ngài.

• Mở trí tuệ, để người thấy rõ lẽ thật, không còn tạo nghiệp mới.

• Làm an định thân tâm, mang lại sự bình hòa, vững chãi.

• Giúp thân thể dần lành mạnh, vì khi tâm an thì khí huyết điều hòa, sức sống tự phục hồi.

Do đó, trị bệnh bằng giáo pháp của Đức Dược Sư là một tiến trình chữa lành toàn diện: chữa từ căn nguyên của phiền não, đưa thân, tâm, nghiệp trở về con đường thanh tịnh.

Ánh sáng Lưu Ly không chỉ chiếu vào thân, mà chiếu vào chính nơi sâu thẳm nhất của tâm, nơi mà mọi bệnh tật, khổ đau và nghiệp lực thật sự bắt đầu.

II. Mười Hai Đại Nguyện Cứu Đời Của Đức Dược Sư

Trong Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh, Ngài phát 12 lời nguyện lớn, được tóm lược như sau:

1. Cho chúng sanh thân thể vàng ròng, trí tuệ sáng suốt.

2. Cho kẻ thiếu thốn được đầy đủ, nghèo hèn được giàu sang.

3. Cho thân hình đoan chính, xóa hết mọi khiếm khuyết.

4. Cho kẻ mê tà trở về chánh pháp.

5. Cho giữ giới thanh tịnh, không phạm lỗi mà đọa.

6. Cho kẻ nghèo không y phục được che thân.

7. Cho kẻ đói được đủ ăn.

8. Cho người bệnh tật được lành ngay nơi hiện đời.

9. Cho phụ nữ cầu chuyển thành nam được toại nguyện.

10. Giải trừ oán thù hại hại lẫn nhau.

11. Cho quốc độ an ổn, khỏi nạn chinh đao, binh đao, tai ương.

12. Giúp người trì danh cuối cùng vãng sinh Tịnh Độ của Ngài.

Mười hai đại nguyện của Đức Dược Sư bao trùm cả:

• Phước báu hiện đời
• Trí huệ đoạn khổ
• Sức khỏe thân - tâm
• Giới hạnh thanh tịnh
• Hóa giải nghiệp lực
• An ổn xã hội
• Con đường giải thoát tối hậu

Không chỉ cứu khổ trong đời này, Ngài còn mở đường cho sự an lạc đời sau và thành tựu giác ngộ.

Nhìn vào mười hai đại nguyện rộng lớn ấy, có thể thấy những lời nguyện được nhân gian ghi nhớ và ứng dụng nhiều nhất chính là:

• Nguyện chữa lành thân bệnh và tâm bệnh: từ bệnh do thân thể suy yếu, nghiệp lực nặng nề, cho đến bệnh của tham, sân, si, bệnh loạn động của nội tâm. Đây là nguyện làm nên danh hiệu “Dược Sư”, vị lương y giải khổ cho cả thân lẫn tâm.

• Nguyện cho đời sống được đủ đầy phước báu: phước tài, phước vật, cơm áo, ruộng vườn, công việc, sự nghiệp, tất cả đều được bổ túc để con người có điều kiện ổn định mà tu tập.

• Nguyện giúp người nữ chuyển thân thành nam: theo ngôn ngữ thời xưa, đây là nguyện phá trừ chướng duyên tu hành, mở ra con đường bình đẳng, giúp người đầy đủ điều kiện tiến đến quả vị giải thoát.

• Nguyện ban phước lành trong việc sinh nở: cho thai kỳ an ổn, mẹ tròn con vuông, con cái đủ phước báu, khỏe mạnh, lớn lên trong thiện duyên.

• Nguyện đoạn trừ oan gia trái chủ, hóa giải oán thù đời đời: xoá bỏ hận nghiệp giữa mình và người, khiến mọi duyên trần trở nên nhẹ nhàng, không còn bị ràng buộc bởi oán trái quá khứ.

Tất cả những lời nguyện ấy đều hướng về niềm an lạc và sự thành tựu của chúng sanh. Không có một lời nào vì chính Đức Dược Sư; mỗi nguyện đều là sự hồi hướng toàn vẹn cho đời, cho người, cho muôn loài đang chìm trong khổ nạn. Chính vì vậy, pháp môn Dược Sư chứa đựng một tình thương sâu rộng và một năng lực cứu độ không thể nghĩ bàn, làm chỗ nương tựa cho vô số người trong cõi nhân gian đầy bệnh khổ.

III. Niệm Danh Phật Dược Sư, Công Đức Lớn Không Thể Cùng Tận

Trong kinh tạng, chỉ cần một lần chí tâm niệm danh hiệu:

“Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai” cũng đã gieo nhân giải thoát, giúp dứt bớt một phần nghiệp xấu của đời mình. Danh hiệu này như ánh sáng Lưu Ly soi rọi tâm, làm dịu khổ đau, mở trí huệ, chuyển mê thành ngộ.

Kinh còn dạy rằng, nếu hành giả niệm lâu dài, trì chú Dược Sư, tụng kinh Dược Sư, thắp đèn cúng hoa, lập đàn công đức, thì phước báo tăng trưởng nhiều lần. Hành trì như vậy không chỉ là nghi thức hình thức, mà là công việc thực tiễn, trực tiếp giúp thân, tâm, nghiệp an ổn, đem lại lợi ích cho cả bản thân và những người xung quanh.

Những quả báo và lợi ích hiện đời từ việc trì niệm bao gồm:

• Giải nghiệp oan gia, trái chủ, chuyển hóa hận thù, hóa giải duyên nợ.

• Bệnh tật nặng được thuyên chuyển, thân tâm khỏe mạnh.

• Tai ương, dịch bệnh, thiên tai hóa lành, an ổn giữa cuộc đời.

• Công việc hanh thông, buôn bán gặp duyên lành, phước tài tăng trưởng.

• Gia đạo êm ấm, con cái khỏe mạnh, hạnh phúc sum vầy.

• Tâm an, trí sáng, nghiệp tiêu, nội tâm thanh tịnh, an nhiên giữa cuộc đời nhiều biến động.

Chính vì công năng thiết thực này, bao đời nay, Phật tử Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Tây Tạng… đều rộng hành pháp Dược Sư, xem đây là pháp cứu khổ nhanh chóng và hiệu quả bậc nhất. Họ tụng niệm, trì chú, lập đàn, thắp đèn cúng hoa, không chỉ cầu an cho bản thân mà còn hồi hướng cho mọi chúng sanh, nối dài dòng phước báu vô lượng.

IV. Những Chuyện Cảm Ứng, Chứng Minh Nguyện Lực Dược Sư

1. Tống Thái Tổ thoát chết nhờ trì danh hiệu Dược Sư

Trong Tống Cao Tăng Truyện có ghi lại một câu chuyện cảm ứng đặc sắc:

Vào thời loạn lạc, một vị tướng trẻ tuổi bị quân địch vây hãm, nguy cơ tử vong gần như chắc chắn. Vị tướng này vốn thường trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư, nên khi gặp nguy nan, ông liền:

Niệm 108 lần danh hiệu: “Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.”

Phát nguyện quay đầu tu thiện, hồi hướng phước đức cho bản thân và chúng sanh.

Ngay trong đêm đó, kỳ diệu xảy ra: quân địch tự tranh cãi lẫn nhau, rối loạn và tan rã, khiến vị tướng thoát chết trong gang tấc. Sau này, ông trở thành Tống Thái Tổ, mở ra triều đại thịnh trị, đem lại an lành cho muôn dân.

Người đời truyền tụng rằng:

“Đó là nhờ thần lực và nguyện lực của Đức Dược Sư soi hộ, cứu mạng giữa nguy nan.”

Câu chuyện này không chỉ minh chứng công năng hiện đời của pháp Dược Sư mà còn là lời nhắc nhở về sức mạnh của niệm danh và hành thiện, rằng niệm Phật không chỉ để cầu an mà còn có thể chuyển nguy thành an, hóa khổ thành phước.

2. Một phụ nữ nghèo trì Dược Sư, thoát bệnh hiểm nghèo

Trong sách Cảm Ứng Lục có ghi lại một câu chuyện cảm động về công năng cứu khổ của Đức Dược Sư:

Một phụ nữ nghèo khổ mắc bệnh nan y, gần như không còn hy vọng sống. Khi gặp một vị tăng, bà được khuyên:

• Ăn chay thanh tịnh, giữ tâm trong sáng.

• Trì chú Dược Sư đều đặn, mở lòng tiếp nhận năng lực từ bi của Phật.

• Niệm danh hiệu “Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai” 10.000 lần, chí tâm và kiên trì.

Kỳ diệu thay, chỉ sau 21 ngày trì niệm và hành thiện, bệnh tình của bà khỏi hẳn, thân tâm an ổn. Câu chuyện này minh chứng nguyện lực của Đức Dược Sư có thể chữa lành cả thân bệnh và tâm bệnh, ngay trong hiện đời, cho những ai chí tâm tin tưởng và hành trì.

Sau khi bình phục, bà phát tâm cúng dường, xây một ngọn tháp nhỏ thờ Phật Dược Sư, bày tỏ lòng tri ân và truyền rộng duyên lành, để mọi người được cảm ứng công đức, an vui như bà.

3. Niệm Dược Sư cầu con, cảm ứng ngay

Trong sách Đông Lâm Chí Sao có ghi lại một câu chuyện cảm ứng đặc sắc:

Một phụ nữ hiền đức, sống trong cảnh cầu con nhiều năm mà chưa được, cơ thể suy kiệt, tâm thần mỏi mệt. Khi được một cư sĩ hướng dẫn:

• Tụng Kinh Dược Sư đều đặn, giữ tâm thanh tịnh.

• Niệm danh hiệu “Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”, hồi hướng công đức đúng pháp.

Kỳ diệu thay, chỉ hơn ba tháng, bà thọ thai và sinh ra một người con trai khỏe mạnh, sau này trở thành hiền sĩ, tinh tấn tu hành.

Câu chuyện này minh chứng rằng, nguyện lực của Đức Dược Sư không chỉ chữa lành bệnh tật, hóa giải nghiệp chướng, mà còn ban phước lành trong các hoàn cảnh khó khăn, như sinh nở, con cái, gia đạo. Chí tâm niệm Phật, kết hợp hành thiện và hồi hướng công đức, sẽ dẫn đến những cảm ứng kỳ diệu ngay trong đời này.

V. Hành Trì Dược Sư Theo Kinh Điển Đại Thừa

Theo kinh điển Đại Thừa, việc hành trì pháp Dược Sư có thể thực hiện theo ba phương pháp chính, tùy theo điều kiện, thời gian và tâm nguyện của mỗi người.

1. Chỉ trì danh

Đây là phương pháp dễ thực hành, ai cũng có thể tu được, kể cả những người bận rộn.

Chỉ cần chí tâm niệm:

• “Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”

• Có thể niệm bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu: khi đi, khi đứng, khi ngồi hay khi nằm.

• Chỉ trì danh cũng gieo nhân lành, chuyển nghiệp, an tâm, khai trí, là bước đầu tiên để mở cửa nguyện lực Dược Sư.

2. Tụng Kinh, Trì Chú Dược Sư

Trong các kinh điển Đại Thừa, Đức Thích Ca Mâu Ni dạy rằng:

Tụng đọc Kinh Dược Sư và trì chân ngôn chính là nối trực tiếp với nguyện lực bất khả tư nghì của đức Lưu Ly Quang Như Lai, tạo thành sợi dây thẳng truyền công đức từ Phật đến hành giả.

Như người d**g buồm ra biển, nếu gió lớn nổi lên thì thuyền đi nhanh, còn nếu không có gió thì cũng chỉ trôi lờ đờ; tụng kinh, trì chú chính là “ngọn gió công đức”, giúp thuyền giải thoát tăng tốc mạnh mẽ.

TỤNG KINH LÀ GỘI THẲNG NỀN TẢNG NGUYỆN LỰC CỦA PHẬT

Một hành giả tụng:

• Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh
• Quán Dược Sư Kinh

chính là đang:

• Đọc lại lời nguyện của Phật,
• Quán chiếu hạnh nguyện vô biên của Ngài,
• Khơi dậy trong tự tâm nguồn sáng Lưu Ly vốn sẵn có.

Mỗi lần đọc, là mỗi lần gieo vào tàng thức hạt giống thanh tịnh, an lạc, trí tuệ, phước đức.

Người xưa nói đẹp rằng:

“Tụng Kinh Dược Sư tức là để chính tâm và ý cùng đi trên bước chân của Phật.”

Tụng lâu ngày:

• Tâm dễ định,
• Trí sáng,
• Phiền não tiêu,
• Ma chướng không dám xâm nhập,
• Nghiệp dữ từ từ tan rã.

TRÌ CHÂN NGÔN DƯỢC SƯ, GỌI THẲNG PHÁP GIỚI

Chân ngôn Dược Sư được gọi là:

“Bản Tâm Chân Ngôn”, tức là tiếng từ bản thể giác ngộ của Phật, gọi thẳng vào tâm chân thật nơi mỗi người.

Khi trì:

• Hơi thở lắng,
• Tâm yên,
• Thân sinh năng lượng sáng,
• Nghiệp lực lùi xa.

Trong Kinh, Phật dạy rằng:

“Chỉ một lần trì chân ngôn, cũng được vô lượng công đức, người trời đều tán thán.”

Cho nên:

• Người bệnh trì chú
• Người nặng nghiệp trì chú
• Người muốn chuyển vận số trì chú
• Gia đình bất an trì chú
• Muốn cải đổi hướng đời trì chú đều được lợi ích sâu xa.

TỤNG ,TRÌ LÂU NGÀY, CÔNG ĐỨC TÍCH THÀNH BIỂN

Người hành trì trì danh thôi cũng được phước, như người:

• Tụng kinh,
• Trì chú,
• Giữ giới,

Hồi hướng cho khắp chúng sanh thì công đức nhân gấp lên nhiều lần, giống như:

• Một mồi lửa nhỏ đặt vào rừng khô, sáng bừng lên vô hạn.

Tâm chân thành, miệng tụng niệm, thân ngồi yên tĩnh, ba nghiệp hợp thành một dòng, thì tương ưng với Phật dễ dàng, cảm ứng nhanh chóng.

3. Lập Đàn, Thắp Đèn, Bố Thí

Nếu tụng kinh, trì chú là nội công tâm linh,
thì lập đàn, thắp đèn, bố thí là ngoại hành của Bồ Tát đạo, giúp công đức được hình thành cụ thể trên nhân gian.

Kinh Dược Sư ghi rõ:

“Thắp một ngọn đèn cúng Phật, có thể chiếu phá bóng tối vô minh của nhiều kiếp.”

Ánh sáng Lưu Ly của Phật tượng trưng cho:

• Trí tuệ phá mê,
• Từ bi phá khổ,
• Ánh sáng phá tối nghiệp đời.

Vì vậy:

• Người cầu bình an thắp đèn
• Người cầu thoát bệnh thắp đèn
• Người cầu con thắp đèn

Người cầu công việc hanh thông cũng thắp đèn đều tương ứng với bản nguyện của Ngài.

THẮP ĐÈN, ĐỐI TRỊ VÔ MINH

Đèn đại diện cho:

• Trí tuệ
• Giác ngộ
• Khai mở

Một ngọn đèn được thắp với tâm đúng pháp sẽ:

• Soi sáng thân tâm mình,
• Chiếu đến chúng sanh nhiều cảnh giới,
• Kết thành công đức hữu hình.

Chính vì công năng thiết thực này, bao đời nay, Phật tử Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Tây Tạng… đều rộng hành pháp Dược Sư, xem đây là pháp cứu khổ nhanh chóng và hiệu quả bậc nhất. Họ tụng niệm, trì chú, lập đàn, thắp đèn cúng hoa, không chỉ cầu an cho bản thân mà còn hồi hướng cho mọi chúng sinh, nối dài dòng phước báu vô lượng.

CÚNG HOA - CÚNG PHẨM - LẤY HÀNH CHUYỂN NGHIỆP

Cúng hoa là gieo nhân:

• Đẹp đẽ
• Đoan chính
• Tướng hảo

Cúng thực phẩm là gieo nhân:

• No đủ
• Tài lộc rộng mở
• Đời sống sung túc

Cúng đàn tràng là gieo nhân:

• Quốc độ thanh bình
• Gia đình êm thuận
• Tâm nghiệp sạch trong

Cho nên hành trì chân chính không phải đợi chết rồi mới cầu, mà ngay trong đời đã gặt được quả lành.

BỐ THÍ, PHƯỚC ĐỨC ĐƯỢC XÂY TRỰC TIẾP

• Phóng sinh
• Bố thí áo
• Bố thí thuốc
• Bố thí tiền
• Bố thí pháp

Cứu người hoạn nạn là nối trái tim mình với đại nguyện của Dược Sư.

Nguyện thứ hai của Ngài là:

“Cho mọi chúng sanh thiếu thốn đều đủ đầy.”

Khi ta cho đi, tức là:

• Tham lam rơi xuống
• Lòng rộng mở ra
• Phước duyên chảy vào đời

Kinh nói:

“Người bố thí cùng hành trì Dược Sư sẽ thành tựu như cầu bảy báu.”

Nghĩa là:

• Việc khó thành dễ
•Việc nghẽn được thông
•Việc bế tắc được khai
• Nghiệp xấu hóa lành
• Đời sống chuyển từ u tối sang sáng rực như lưu ly.

Đó là công đức hiện tiền, thấy ngay trong đời này, không đợi kiếp sau.

Nguyện cho mọi chúng sanh, trong từng hơi thở, từng ý niệm, đều được chiếu soi bởi ánh sáng Lưu Ly thanh tịnh, chữa lành mọi thân bệnh, tâm bệnh, và nghiệp lực nặng nề.

Hãy thành tâm niệm danh hiệu:

“Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”,
không chỉ để cầu an cho bản thân, mà còn hồi hướng phước đức cho mọi chúng sanh, xóa tan oán hờn, đem lại hòa bình trong tâm, trong nhà, trong đời.

Niệm Phật Dược Sư, mỗi lần thốt ra, mỗi lần trì chú, mỗi lần tụng kinh, đều gieo hạt giống từ bi, trí tuệ, và phước lành. Dù trong hoàn cảnh khổ đau, bệnh tật hay trắc trở, ánh sáng Lưu Ly của Ngài vẫn chiếu soi, dẫn dắt con người vượt qua mê lầm, mở ra an lạc và hy vọng ngay trong đời này.

Hãy kiên trì hành trì: chỉ trì danh, tụng kinh, trì chú, thắp đèn, cúng dường và bố thí. Mỗi hành động đều là nhân lành, kết thành dòng công đức vô lượng, không chỉ bảo vệ thân tâm mà còn làm lợi lạc cho muôn loài, nối dài hạnh nguyện cứu đời của Đức Dược Sư.

Nguyện cho tất cả chúng sanh, từ hôm nay, đều được ánh sáng Lưu Ly soi rọi, chuyển khổ thành an, mê lầm thành trí tuệ, và từng bước, từng bước, tiến đến giải thoát tối thượng.

( Bài viết được chia sẻ từ facebook Thường Tàm Hư Thân )

Address

An Khê

Telephone

+84898850508

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Người Học Đạo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share