BẾN CÁT

BẾN CÁT

Phường Bến Cát họp mặt kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt NamNgày 22/12, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việ...
22/12/2025

Phường Bến Cát họp mặt kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam

Ngày 22/12, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Bến Cát tổ chức họp mặt kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2025) và 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2025). Tham dự buổi họp mặt có đồng chí Nguyễn Trọng Ân – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường; đồng chí Trần Thị Thảo – Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường, đồng chí Phan Ái Thanh Dung – Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam phường.

Tại buổi họp mặt, các đại biểu đã xem phóng sự ôn lại truyền thống 81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Theo báo cáo, trong năm 2025, lực lượng quân sự phường đã duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; phối hợp với Công an tổ chức 240 cuộc tuần tra với gần 3.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia; huy động 126 lượt người thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả mưa bão, triều cường. Công tác xây dựng lực lượng được kiện toàn đủ 371 dân quân tự vệ, đạt 100% chỉ tiêu, trong đó tỷ lệ đảng viên đạt 26,41%; quản lý 1.023 quân nhân dự bị hạng 1 và 7.312 quân nhân dự bị hạng 2. Công tác huấn luyện đạt 100% yêu cầu, trên 75% khá, giỏi; địa phương đã đón 74 quân nhân xuất ngũ trở về và tổ chức đăng ký, khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự lần đầu cho 216 thanh niên đủ 17 tuổi. Công tác hậu cần – kỹ thuật được bảo đảm với mức ăn 72.000 đồng/người/ngày; phong trào tăng gia sản xuất đạt tổng thu dự kiến trên 378 triệu đồng.

Phát biểu tại buổi họp mặt, đồng chí Trần Thị Thảo – Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường nhấn mạnh Truyền thống cách mạng kiên cường của vùng đất anh hùng Bến Cát, tiêu biểu là Đội nữ Pháo binh Bến Cát (Đại đội 5) – đơn vị đã lập nhiều chiến công xuất sắc, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Phát huy truyền thống đó, những năm qua, công tác quốc phòng – quân sự địa phương được triển khai hiệu quả, lực lượng dân quân tự vệ không ngừng được củng cố, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Dịp này, lãnh đạo phường đã trao quà tri ân cho cán bộ quân đội nghỉ hưu, thể hiện sự quan tâm Đảng và Nhà nước đối với những đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Quốc Vinh

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944-22/12/2025)Bước vào giai đoạn mới, nhiệm ...
22/12/2025

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944-22/12/2025)

Bước vào giai đoạn mới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh, khó lường; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; vấn đề chủ quyền biển đảo còn phức tạp. Trong bối cảnh đó, QĐND Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụng KHCN, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, xây dựng lực lượng tinh nhuệ trong tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử, bảo đảm an ninh quốc gia trong thời đại số. Đặc biệt, việc xây dựng quân đội chính quy, kỷ luật nghiêm, có bản lĩnh chính trị vững vàng tiếp tục được đặt lên hàng đầu, nhằm bảo đảm Quân đội luôn là lực lượng trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Một trong những điểm sáng nổi bật là quân đội tích cực tham gia hội nhập quốc tế và hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Những “sứ giả áo xanh” mang quốc kỳ Việt Nam đến Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi đã ghi dấu bằng hình ảnh chuyên nghiệp, nhân văn và trách nhiệm. Điều đó thể hiện vai trò, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định quân đội ta không chỉ bảo vệ hòa bình Tổ quốc mà còn góp phần gìn giữ hòa bình thế giới.

Kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam cũng là dịp để tri ân những thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc; ghi nhận và tôn vinh công lao của hàng triệu chiến sĩ đang ngày đêm công tác, huấn luyện, SSCĐ trên mọi miền Tổ quốc. Đó cũng là lời nhắc nhở mỗi người dân về trách nhiệm xây dựng nền QPTD, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; sẵn sàng phối hợp với lực lượng quân đội và công an trong bảo vệ bình yên đất nước.

Truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân; SSCĐ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường cho quân đội ta trong mọi hoàn cảnh. Tự hào về 81 năm xây dựng và trưởng thành, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân càng thêm tin tưởng vào sức mạnh của QĐND Việt Nam - một lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Nam quốc sơn hà

“NGƯỜI CÁCH MẠNG MẪU MỰC”“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi...
22/12/2025

“NGƯỜI CÁCH MẠNG MẪU MỰC”

“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình” (1).

Nguyễn Ái Quốc viết bài “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên báo Thanh Niên, số 61, năm 1926. Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên – những người cách mạng suốt đời phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Bác, người cách mạng mẫu mực trước hết phải là người có đạo đức cách mạng. Bởi “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục phát huy tính tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực công tác đã góp phần làm nên những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn luôn khắc ghi lời dạy của Người về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới trở thành người quân nhân kiểu mẫu, thật sự xứng đáng là người quân nhân cách mạng của một Quân đội anh hùng.

QĐND
(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.514.

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN VIỆT NAM VÀ NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN Thực hiện chủ trương của Trung ươ...
21/12/2025

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN VIỆT NAM VÀ NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Cũng từ đó, ngày 22/12 trở thành ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, cũng là ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc..."

Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh tuy ngắn nhưng rất súc tích. Bao gồm các vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự của Đảng ta như: Vấn đề kháng chiến toàn dân, động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng võ trang cách mạng, phương châm xây dựng 3 thứ quân, phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng võ trang, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích của lực lượng võ trang.

Ngày 22-12-1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng,do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới lá cờ đỏ sao vàng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã long trọng đọc 10 lời tuyên thệ.

34 chiến sĩ Cao - Bắc - Lạng này là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, có tinh thần kiên quyết, dũng cảm, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch-Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).

Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944. Hai trận đánh trên thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, trong Cách mạng Tháng Tám, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày, quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.

Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ.

Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội…

Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22-12-1944 được xác định là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội của dân, do dân, vì dân; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Ngày 24 tháng 9 năm 1954, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Quyết định số 400/TTg quy định "Quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ nay gọi thống nhất là: Quân đội nhân dân Việt Nam". Danh xưng này được sử dụng cho đến ngày nay.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là Ngày hội Quốc phòng Toàn dân.

Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

18/12/2025

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI

“VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI” CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến...
17/12/2025

“VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI”
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược và quân dân ta đã lập nên những chiến công hiển hách; qua đó đã xuất hiện những danh tướng lẫy lừng. Một trong số đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp-“Vị tướng huyền thoại” của dân tộc ta.
Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có viết: Các vị tướng đạt đến bậc “đại danh tướng” trong lịch sử dân tộc, đó là: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ.
Đến thế kỷ 20, trong thời đại Hồ Chí Minh, mẫu mực thứ tư để hợp thành “tứ đại danh tướng Việt Nam” là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu như trong bộ ba nhân tướng thời trung cổ, vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã được nhân dân suy tôn thành “Đức Thánh Trần” thì ở thế kỷ 20, “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng với đại võ công Điện Biên Phủ năm 1954 đã được suy tôn là “Vị tướng huyền thoại”(1).
Trước hết, từ thầy giáo dạy lịch sử trở thành người chỉ huy quân sự. Có một câu hỏi mà chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới lý giải một cách thấu đáo, đó là: Vì sao Người chọn Võ Nguyên Giáp - thầy giáo dạy lịch sử ở Trường Tư thục Thăng Long, về dung mạo thuộc hàng “bạch diện thư sinh” đảm nhiệm việc thành lập tổ chức quân sự và chỉ huy quân sự, trong khi ở thời kỳ đó, có hàng chục học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) được đào tạo cơ bản về quân sự! Và ngay từ lần gặp đầu tiên năm 1940, tại Côn Minh (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy ở Võ Nguyên Giáp những dấu hiệu của một thiên tài quân sự và tin tưởng giao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ chỉ huy quân sự của cách mạng Việt Nam; đồng thời Người căn dặn Võ Nguyên Giáp “Phải tranh thủ học tập về quân sự”(2), quyết định giao cho Võ Nguyên Giáp việc thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đây là sự kiện đánh dấu và quyết định đến sự nghiệp chỉ huy quân sự của Võ Nguyên Giáp.
Thứ hai, Võ Nguyên Giáp là vị chỉ huy được phong quân hàm duy nhất chỉ có một lần-cấp hàm Đại tướng. Sau chiến dịch Đông Bắc năm 1947 giành thắng lợi, ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp-Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ. Đây không chỉ là trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao cho mà còn là sự tin tưởng vào tài năng, đức độ, “văn-võ song toàn”, có đầy đủ phẩm chất, nhân cách một người làm “Tướng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”; và “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”(3). Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trái tim, khối óc và hành động cách mạng suốt cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thứ ba, trong hơn 30 năm là Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam cùng nhân dân ta đánh thắng các đội quân xâm lược của chủ nghĩa phát xít, thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới quyền chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đánh bại quân xâm lược của phát xít Nhật, để giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau đó, đánh thắng thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ-được đối phương coi là tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm”. Điều cần nhấn mạnh là, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”(4), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra nhiều quyết định quan trọng, trong đó có quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình là chuyển phương châm Chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Chính quyết định ấy đã góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở miền Bắc nước ta.
Hiệp định Geneva ký kết chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp xâm lược nước ta, đặt ách thống trị kiểu thực dân mới, buộc nhân dân ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến mới, gay go, ác liệt hơn. Với ý chí quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ tiếp tục giao nhiệm vụ chỉ huy Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy toàn dân, toàn quân ta lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, đặc biệt là chiến thắng "Điện Biên phủ trên không" năm 1972 và chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc nhiều viên đại tướng của Pháp, Mỹ phải hứng chịu thất bại ở Việt Nam. Đây không chỉ là chiến công lẫy lừng của quân và dân ta mà còn là sự kiện nổi bật trong lịch sử chiến tranh ở thế kỷ 20.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù trên cương vị nào được Đảng, Nhà nước giao cho, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều dồn hết tâm sức, trí tuệ và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Và điều đặc biệt là, Võ Nguyên Giáp được nhân dân vinh danh là "Đại tướng của nhân dân"; được cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gọi với cái tên trìu mến: “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam-điều hiếm gặp trên thế giới!
Thứ tư, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại cho quân và dân ta, nhất là các tướng lĩnh, sĩ quan quân đội “cẩm nang”, “sách gối đầu giường” qua những tác phẩm tổng kết hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc mà Đại tướng là vị chỉ huy tài ba, lỗi lạc và đã giành chiến thắng. Tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp là những tác phẩm: “Phát động du kích chiến tranh”, “Tiến mạnh sang giai đoạn mới”, “Chiến tranh giải phóng và Quân đội nhân dân-ba giai đoạn chiến lược”. Với kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng đã viết nhiều tác phẩm bàn về lực lượng vũ trang nhân dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chiến tranh nhân dân trên địa bàn sông nước... Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975, Đại tướng có điều kiện nhìn nhận, đánh giá những vấn đề thuộc về chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu sâu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự Việt Nam... và hàng loạt tác phẩm, hồi ký như: “Từ nhân dân mà ra”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Đường tới Điện Biên Phủ”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”... Điều đó càng chứng tỏ phẩm chất “văn-võ song toàn” của Đại tướng, đúng như Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Võ công truyền Quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm”.
Thứ năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vĩnh biệt thế giới vào lúc 18 giờ 9 phút ngày 4-10-2013, để lại nỗi tiếc thương vô hạn với đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế; là sự mất mát to lớn đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Giáo sư Vũ Khiêu viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lòng tiếc thương và cảm phục vô hạn: “Gương rọi đất trời rực sáng ngàn thu nhân lại trí/ Lệ tràn sông núi khóc than hai bác Võ như Hồ”! Giáo sư sử học Lê Văn Lan viết: “Mùa thu năm 2013, lịch sử thời hiện đại lại đang chứng kiến một điều huyền diệu: Bậc Nhân tướng thời đại Hồ Chí Minh họ Võ-khi được lập ban thờ ở khắp nơi, được các động tác thực hành tín ngưỡng và những lời lẽ nguyện cầu của rất nhiều người suy tôn thành kính... cũng đang “hóa thánh” và “hiển thánh”, đang hóa thân thành bậc Thánh tướng thời hiện đại”(5).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, trở thành mẫu mực thứ tư trong “Tứ đại danh tướng Việt Nam”, là “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại công lao, tài năng, đức độ của người cộng sản kiên trung, mẫu mực, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh Cả” của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Với lòng kính trọng và ngưỡng mộ của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ dành cho Đại tướng, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta nguyện phấn đấu không ngừng theo tấm gương của Đại tướng, quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo phương hướng, mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANGTư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT là nội dung quan trọng, cốt lõi...
17/12/2025

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT là nội dung quan trọng, cốt lõi trong di sản tư tưởng quân sự mà Người để lại cho Đảng và cách mạng Việt Nam; góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Thứ nhất, xây dựng LLVT làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là một tất yếu khách quan

Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng LLVT cách mạng, kế thừa những bài học kinh nghiệm của ông cha ta về xây dựng tổ chức quân sự trong lịch sử giữ nước của dân tộc, đồng thời đi sâu phân tích bản chất của chủ nghĩa thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra rằng: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”. Vì vậy, đối với các dân tộc thuộc địa muốn chiến thắng kẻ thù hung bạo thì không có sự lựa chọn nào khác là phải “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”.

Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”. Do đó, tổ chức và xây dựng LLVT là một tất yếu khách quan trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, xây dựng lực lượng chính trị, các tổ chức và đoàn thể cách mạng làm cơ sở để xây dựng LLVT nhân dân

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bạo lực cách mạng ở Việt Nam phải là bạo lực của quần chúng có tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bạo lực đó bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và LLVT nhân dân, với hai hình thức đấu tranh là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.

Trong đó, lực lượng chính trị là cơ bản, nền tảng của cách mạng và là cơ sở để xây dựng, phát triển LLVT nhân dân. Lực lượng chính trị theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm mọi người dân trong các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đã được giác ngộ, được tập hợp thông qua các tổ chức, các đoàn thể cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: “Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị, tự nguyện vác súng thì mới thắng được”.

Để xây dựng LLVT trong điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải sớm hình thành các đoàn thể cứu quốc, thông qua hoạt động của các tổ chức, đoàn thể đó mà lựa chọn những người ưu tú nhất để thành lập các đội tự vệ, đội du kích; thông qua hoạt động của các đội tự vệ, đội du kích mà “chọn lọc số cán bộ và đội viên kiên quyết nhất, hăng hái nhất... để lập ra đội chủ lực”. Người kêu gọi: “Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội”. Từ những hội đó mà thức tỉnh, rèn luyện quần chúng trên đường đấu tranh, dần dần tổ chức LLVT cách mạng.

Được tổ chức và xây dựng trên cơ sở phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, LLVT tuy mới ra đời còn non trẻ, biên chế tổ chức còn nhỏ bé, vũ khí, trang bị còn thô sơ, huấn luyện quân sự còn đơn giản, nhưng do thường xuyên bám chắc và phát triển mở rộng trên cơ sở lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng rộng khắp, được các tổ chức, đoàn thể cách mạng đùm bọc, nuôi dưỡng, cho nên đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, LLVT cách mạng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện, lấy vững mạnh về chính trị làm cơ sở

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng LLVT cách mạng trong điều kiện Việt Nam từ một nước thuộc địa và phong kiến, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, đòi hỏi phải coi trọng xây dựng vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Đó vừa là yêu cầu cơ bản vừa là vấn đề nguyên tắc trong xây dựng tổ chức vũ trang cách mạng, đồng thời đây là sự sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh nhân dân và xây dựng tổ chức quân sự của giai cấp vô sản nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của LLVT cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải coi trọng xây dựng sức mạnh toàn diện của LLVT nhân dân. Bởi theo Người: “Tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng”, còn nếu “chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được”. Sức mạnh của LLVT nhân dân Việt Nam là sức mạnh toàn diện về bản chất cách mạng và khả năng sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi. Nhưng đối với LLVT cách mạng ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, quá trình xây dựng lực lượng đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn thì sự vững mạnh toàn diện theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thể có được trên cơ sở vững mạnh về chính trị. Người luôn xác định chính trị là “cái gốc”, là nền tảng quan trọng để xây dựng và phát triển LLVT cách mạng, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Quá trình xây dựng LLVT về chính trị thực chất là quá trình tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm cho LLVT mang bản chất giai cấp công nhân, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của nhân dân và dân tộc...

Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vào xây dựng LLVT nhân dân trong tình hình hiện nay mang ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây chính là quy luật tất yếu khách quan, là nguyên tắc khoa học về xây dựng LLVT nhân dân cách mạng, góp phần để Quân đội hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Báo Hải Quân Việt Nam

TÊN GỌI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ           1. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là tên của...
17/12/2025

TÊN GỌI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

1. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là tên của đội quân chủ lực của Mặt trận Việt Minh từ tháng 12-1944 đến tháng 5-1945. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, 22-12-1944, sau này đã được chọn làm Ngày thành lập của QĐND Việt Nam.

2. Việt Nam Giải phóng quân là tên gọi của QĐND Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 11-1945. Việt Nam Giải phóng quân thành lập ngày 15-5-1945, tại Định Biên Thượng (Chợ Chu, Thái Nguyên) trên cơ sở thống nhất từ các đơn vị Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước, theo nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (tháng 4-1945) họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang).

3. Vệ quốc đoàn: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã lâm vào tình thế hiểm nghèo, thù trong, giặc ngoài. Ở phía Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào giải giáp quân Nhật. Ở phía Nam, thực dân Anh mở đường cho thực dân Pháp tiến vào với âm mưu biến Việt Nam trở về thời kỳ thuộc địa. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiến hành sách lược mềm dẻo “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, để giữ vững nền độc lập non trẻ. Trước sức ép của quân Tưởng Giới Thạch, ta linh động đưa Đảng ta vào hoạt động bí mật, Đảng tuyên bố “tự giải tán”. Để đáp ứng yêu sách của quân Tưởng đòi giải tán quân đội chính quy, tháng 11-1945, Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn (còn gọi là Vệ quốc quân). Lúc này quân số quân đội ta khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã “Nam tiến” để giúp quân dân miền Nam chống lại thực dân Pháp đang tấn công xâm lược trở lại ở Nam Bộ.

4. Quân đội Quốc gia Việt Nam: Ngày 22-5-1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng Tham mưu. Quân đội ta lúc này tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, Chính phủ ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: Dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Trong thời kỳ 1945-1950, có những người lính trong quân đội thực dân, đế quốc sang xâm lược Việt Nam, bị cảm hóa bởi cuộc kháng chiến vệ quốc chính nghĩa của quân dân ta đã tình nguyện gia nhập Quân đội ta, tham gia chiến đấu và công tác ở nhiều lĩnh vực như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền… Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng Quân đội Quốc gia Việt Nam trong buổi ban đầu xây dựng lực lượng.

5. Quân đội nhân dân Việt Nam: Từ năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi "Quân đội nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ.

Trái tim người lính

Address

Bến Cát, Bình Dương
Ben Cat

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BẾN CÁT posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to BẾN CÁT:

Share

Category