CAO BẰNG HÔM NAY

CAO BẰNG HÔM NAY Trang Fanpage chính thức của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Cao Bằng Tin tức Cao Bằng
(1)

Chuẩn bị chu đáo khai giảng và hoàn thiện các trường nội trú liên cấp biên giớiChiều 3/9, UBND tỉnh tổ chức cuộc họp về ...
04/09/2026

Chuẩn bị chu đáo khai giảng và hoàn thiện các trường nội trú liên cấp biên giới

Chiều 3/9, UBND tỉnh tổ chức cuộc họp về công tác chuẩn bị khai giảng, tổ chức dạy học và hoàn thiện 11 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Đồng chí Lê Hải Hòa, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.

Dự cuộc họp có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách theo dõi các trường nội trú liên cấp; lãnh đạo UBND tỉnh; các sở, ngành của tỉnh; lãnh đạo 11 xã có trường nội trú liên cấp và các đơn vị liên quan.

Hiện nay, 11/11 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới cơ bản bảo đảm điều kiện tổ chức Lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 theo kế hoạch. Công tác lắp đặt trang thiết bị đang được triển khai đồng bộ với tiến độ hoàn thành hạng mục xây dựng. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với 11 xã rà soát điều kiện tổ chức dạy học; đưa đón, bố trí nội trú, bán trú học sinh để xây dựng phương án cụ thể với từng trường. Việc bố trí đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên cơ bản bảo đảm nhân lực để tổ chức quản lý, điều hành và dạy học. Trong đó, đã bố trí đủ 33 cán bộ quản lý, 728 giáo viên cho 11 trường, cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của các nhà trường.

Lễ khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và Lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 sẽ diễn ra đồng loạt cùng với cả nước vào sáng 5/9 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Điểm cầu chính của tỉnh đặt tại Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trà Lĩnh, kết nối trực tuyến với điểm cầu trung tâm của Trung ương đặt tại Trường Phổ thông nội trú Mường Khương, xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai; 10 trường còn lại kết nối trực tuyến với điểm cầu chính của tỉnh. Dự kiến, hơn 11.200 học sinh của các trường nội trú liên cấp biên giới tham dự chương trình.

Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung thảo luận về tiến độ hoàn thiện các hạng mục của 11 trường nội trú liên cấp; phương án tổ chức dạy học, bố trí nội trú, bán trú, bảo đảm an ninh, an toàn khi học sinh vào học; xây dựng kế hoạch chi tiết và chuẩn bị chu đáo các điều kiện, nội dung tổ chức lễ khai giảng. Các ý kiến cũng đề cập vấn đề vệ sinh môi trường, chỉnh trang khuôn viên, các khối nhà, bố trí khẩu hiệu, pano, băng rôn, khánh tiết; rà soát khối lượng xây dựng còn lại, phối hợp xử lý kịp thời các nội dung phát sinh. Đồng thời, các địa phương và nhà trường tăng cường tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

Phát biểu kết luận cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa khẳng định, việc đầu tư xây dựng và tổ chức hiệu quả mô hình trường nội trú liên cấp là yêu cầu tất yếu đối với khu vực biên giới, góp phần bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng chí nhấn mạnh, an toàn của học sinh phải được đặt lên hàng đầu; tuyệt đối không vì tiến độ, thành tích mà xem nhẹ các điều kiện an toàn. Các địa phương, nhà trường triển khai đồng bộ các giải pháp, phấn đấu huy động 100% học sinh đến trường; thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách hỗ trợ nội trú, bán trú, nhất là đối với học sinh yếu thế; rà soát, bố trí phù hợp để nâng tỷ lệ học sinh nội trú, bảo đảm điều kiện ăn, học và nghỉ ngơi.

Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị chủ đầu tư, các nhà thầu và đơn vị liên quan đồng lòng, quyết tâm cao, tập trung huy động nhân lực, tổ chức thi công cuốn chiếu, khẩn trương hoàn thiện các hạng mục còn lại, bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn công trình. Các địa phương, nhà trường chủ động phối hợp với chủ đầu tư xây dựng phương án tổ chức lễ khai giảng chu đáo, trang trọng, an toàn tại 11 trường nội trú liên cấp. Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì rà soát danh sách học sinh từng trường; xây dựng cụ thể phương án đưa đón, bố trí học tập, ăn, nghỉ, chăm sóc y tế và phân công đầu mối chịu trách nhiệm tại mỗi trường.

Ngay sau khai giảng, hoạt động dạy học phải được duy trì bình thường, liên tục. Khu vực học tập, sinh hoạt phải được ngăn cách bằng hàng rào cứng và có lối đi riêng, tách biệt hoàn toàn với khu vực thi công; các hạng mục hoàn thành đến đâu phải được kiểm tra, nghiệm thu, bàn giao đến đó.

Các sở, ngành, địa phương tiếp tục hỗ trợ lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ; duy trì hoạt động của các tổ công tác tại 11 trường để thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh.

https://baocaobang.vn/chuan-bi-chu-dao-khai-giang-va-hoan-thien-cac-truong-noi-tru-lien-cap-bien-gioi-3192018.html

[Infographic] Năm yêu cầu trọng tâm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai N...
04/09/2026

[Infographic] Năm yêu cầu trọng tâm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị

Sáng 3/9, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

ND

Toàn văn Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt triển khai một số nghị qu...
04/09/2026

Toàn văn Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị

Sáng 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương,

Thưa toàn thể các đồng chí cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước,

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị. Qua các chuyên đề, những nội dung cốt lõi, điểm mới và yêu cầu tổ chức thực hiện đã được làm rõ. Tôi đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc của các cơ quan và tinh thần trách nhiệm của toàn thể Hội nghị.

Chúng ta triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng trong bối cảnh đất nước có thời cơ lớn, khát vọng lớn và yêu cầu rất cao; thế giới, khu vực biến động nhanh, công nghệ số và biến đổi khí hậu đang định hình lại phương thức phát triển, quản trị. Điều đó đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, phương thức tổ chức, năng lực hành động; không thể làm việc theo cách cũ, chậm quyết định, chậm thực thi.

Cả 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị hợp thành một chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động. Công tác tư tưởng, học tập và thực hành theo Bác, xây dựng đội ngũ cán bộ tạo nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức, sức chiến đấu. Phát triển vùng, du lịch, công tác người Việt Nam ở nước ngoài mở rộng không gian, khơi thông, kết nối nguồn lực. Tất cả cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân.

Hội nghị hôm nay không chỉ là quán triệt, mà mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà Nhân dân cảm nhận được. Từng cấp ủy, cơ quan, địa phương, từng đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, trách nhiệm; chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị thực hiện tốt 5 yêu cầu trọng tâm.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa 6 văn kiện; quán triệt đúng từng văn kiện, kết nối đúng, tổ chức thực hiện đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất.

Quán triệt phải làm rõ vấn đề cần giải quyết, bước chuyển tư duy, yêu cầu hành động. Công tác tư tưởng phải dẫn dắt nhận thức xã hội. Học và làm theo Bác phải chuyển thành thực hành thường xuyên, coi trọng phương pháp Hồ Chí Minh với phương châm "Nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn". Cán bộ phải được khuyến khích dám làm vì việc chung nhưng chịu kiểm soát quyền lực. Phát triển vùng, du lịch, công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải cùng khơi thông, kết nối nguồn lực.

Ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược và 6 văn kiện hôm nay; tích hợp nhiệm vụ cùng mục tiêu, địa bàn; xử lý chồng chéo, điều phối nguồn lực dùng chung. Việc cần thể chế hóa phải rõ cơ quan, thời hạn, sản phẩm; việc mới, khó phải rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm.

Tích hợp không có nghĩa là hòa lẫn; đồng bộ không có nghĩa là đồng nhất. Mỗi văn kiện có mục tiêu, nhiệm vụ, công cụ riêng; nhưng phần giao thoa phải đưa vào kế hoạch chung, phối hợp nguồn lực, kết nối dữ liệu, thống nhất kiểm tra, giám sát. Làm tốt một nhiệm vụ có thể đồng thời góp phần thực hiện nhiều văn kiện, tạo hiệu quả cộng hưởng, khắc phục chồng chéo, phân tán nguồn lực.

Mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, một đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng; chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, không lấy văn bản, hội nghị thay chuyển biến thực tế. Lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chính đáng của Nhân dân là tiêu chuẩn cao nhất.

Thứ hai, đồng thời hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực và quản trị rủi ro; không giao việc trước rồi sau đó mới đi tìm điều kiện thực hiện.

Thể chế phải đi trước một bước, vừa giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, vừa mở đường cho phát triển. Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan phải sửa quy định chồng chéo, lấp khoảng trống pháp lý cản trở đổi mới, liên kết vùng, phát triển du lịch, thu hút nhân tài, phát huy nguồn lực. Vấn đề đã chín, đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm phải sớm thể chế hóa. Việc vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án xử lý, không chỉ nêu khó khăn.

Phân cấp, phân quyền phải đi cùng nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực; vận hành theo cơ chế giao quyền, giám sát thực thi, quản trị rủi ro, đánh giá bằng kết quả. Không giao trách nhiệm mà thiếu điều kiện triển khai thực hiện; không phân cấp trên văn bản, giấy tờ nhưng việc gì cũng vẫn phải xin ý kiến. Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn; cấp tỉnh bảo đảm điều kiện, cấp xã đủ năng lực phục vụ Nhân dân. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống.

Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải thí điểm có kiểm soát, rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, nguồn lực, giới hạn rủi ro, giám sát, trách nhiệm; theo chu trình thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện, nhân rộng, luật hóa. Trong phân cấp, thí điểm, đổi mới, phải bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; nhưng bảo vệ không có nghĩa là miễn trách nhiệm. Kiểm soát quyền lực là để đổi mới đúng hướng, không làm tê liệt sáng tạo. Cơ chế bảo vệ phải bao quát các khâu tham mưu, thẩm định, quyết định, tổ chức thực hiện; bảo vệ đúng người, đúng việc; xử lý nghiêm người vụ lợi, né tránh, cố ý trì hoãn hoặc cản trở đổi mới thuộc thẩm quyền.

Thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo. Chậm thể chế hóa, chậm quyết định, chậm tháo gỡ điểm nghẽn là tăng chi phí, mất cơ hội. Việc đã rõ phải làm ngay; vướng mắc phải xử lý từ sớm.

Thứ ba, tạo chuyển biến thực chất về công tác cán bộ, tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi; coi đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống.

Cán bộ là nhân tố quyết định. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ cầm chừng, né tránh thì công việc vẫn trì trệ. Phải chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả để đánh giá, sử dụng, sàng lọc. Hằng năm, mỗi cấp ủy, cơ quan, địa phương phải xác định việc khó, điểm nghẽn; giao người đủ bản lĩnh, năng lực, thẩm quyền, nguồn lực. Phải để người dám nghĩ, dám làm, có sản phẩm thực chất được ghi nhận, bảo vệ, trọng dụng; người né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng phải được sàng lọc, thay thế.

Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công tâm, khách quan, đa chiều; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, uy tín và tín nhiệm của Nhân dân. Không chỉ nhìn vào hồ sơ đẹp, quá trình an toàn, số lượng sáng kiến; không đánh đồng rủi ro khách quan, sai sót không vụ lợi trong thực hiện công việc đúng chủ trương với hành vi vi phạm để làm thui chột động lực đổi mới.

Nêu gương là một phương thức lãnh đạo. Người đứng đầu phải nêu gương bằng hành động, quyết định, kết quả; không thể yêu cầu cấp dưới đổi mới khi mình sợ trách nhiệm, yêu cầu cán bộ gần dân trong khi mình chỉ biết tình hình qua báo cáo. Phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó; xuống cơ sở, đối thoại với cán bộ, người dân, doanh nghiệp; làm rõ vướng mắc do thể chế hay con người; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng.

Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, phải tự soi, tự sửa; nêu gương bằng kết quả, hiệu quả công tác. Học Bác phải thể hiện ở bản lĩnh trước khó khăn; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính; tinh thần phục vụ Nhân dân; nói đi đôi với làm. Điểm mới của Chỉ thị số 07 là chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, coi trọng phương pháp Hồ Chí Minh: nắm chắc, nghiên cứu kỹ thực tiễn trước khi quyết định; chọn đúng việc trọng tâm; làm việc dân chủ, khoa học; dựa vào dân, lắng nghe dân, chịu sự kiểm tra của dân. Phương pháp ấy phải trở thành năng lực công vụ hằng ngày, thành văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ, văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển theo lợi ích tổng thể quốc gia; gắn phát triển vùng, phát triển du lịch với phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài.

Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương. Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Mỗi địa phương phải rõ vai trò trong vùng, lợi thế cần tập trung, việc phải liên kết, hạ tầng có sức lan tỏa; không chạy theo cơ cấu giống nhau, nơi nào cũng muốn có cảng biển, sân bay, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính... mà không căn cứ lợi thế, hiệu quả. Quy hoạch phải là công cụ tổ chức phát triển.

Với công trình liên vùng, phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó; cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi. Đầu tư công tập trung vào hạ tầng nền tảng, hạ tầng liên vùng, hạ tầng số, khoa học, công nghệ, năng lượng, logistics; không dàn trải. Phát triển vùng phải gắn kinh tế với văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu của từng vùng và cả nền kinh tế.

Phát triển du lịch phải đặt trong chiến lược phát triển đất nước và không gian kinh tế vùng, trở thành động lực tăng trưởng mới, nâng cao sức mạnh mềm; được tổ chức như một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh; lấy văn hóa, bản sắc, trải nghiệm làm lợi thế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực. Tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, thị thực, hạ tầng, quản trị điểm đến, nhân lực, dữ liệu, quảng bá; hướng vào phân khúc khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày. Liên kết vùng phải tạo sản phẩm đặc sắc, thương hiệu chung, chuỗi giá trị thực chất. Doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể; không đánh đổi di sản, bản sắc, môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

Cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống, làm việc, học tập tại hơn 130 quốc gia, vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của dân tộc, nguồn lực chiến lược, cầu nối với thế giới. Công tác này phải chuyển từ vận động, chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế, kết nối nguồn lực; không kêu gọi chung chung. Mỗi vùng động lực, trung tâm đổi mới sáng tạo, ngành công nghệ chiến lược phải xác định nhu cầu chuyên gia, công nghệ, vốn, mạng lưới, thị trường; bộ, ngành, địa phương, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp phải có dự án để đồng bào tham gia.

Phải hoàn thiện chính sách, đơn giản hóa thủ tục; xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới người Việt Nam toàn cầu; hỗ trợ đồng bào có địa vị pháp lý vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân; giữ gìn tiếng Việt, bản sắc, cội nguồn; lắng nghe ý kiến xây dựng, kể cả quan điểm khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Phát huy vai trò của đồng bào là "đại sứ văn hóa", "đại sứ hữu nghị", chủ thể thông tin đối ngoại, góp phần nâng cao sức mạnh mềm, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Huy động nguồn lực phải bằng thể chế minh bạch, thái độ cầu thị, kết quả cụ thể.

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách; siết chặt kỷ luật thực thi; lấy dữ liệu, sản phẩm, chuyển biến thực tế và sự hài lòng của Nhân dân làm căn cứ đánh giá.
Công tác tư tưởng phải quán triệt phương châm "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả"; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm gốc, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo. Phải đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện, đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ sớm, từ cơ sở. Đây là việc của toàn Đảng, trước hết là cấp ủy, người đứng đầu; không khoán trắng cho cơ quan chuyên trách. Truyền thông chính sách phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu; tăng giải thích, đối thoại, lắng nghe, tạo đồng thuận bằng sự thật, lý lẽ, kết quả thực tiễn.

Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân. Phải phân biệt băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt; không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt. Mỗi vấn đề lớn phải có đầu mối cung cấp thông tin, xử lý từ sớm. Chú trọng giúp thế hệ trẻ nhận diện, kiểm chứng, tự bảo vệ trước thông tin sai lệch, thao túng tâm lý, cảm xúc. Không để bức xúc thực tế và khoảng trống thông tin làm xói mòn niềm tin.

Phải sử dụng dữ liệu, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo để dự báo, cảnh báo, nhưng không kỹ thuật hóa công tác tư tưởng. Thông tin do công nghệ hỗ trợ phải được kiểm chứng, có người chịu trách nhiệm; công nghệ không thay thế bản lĩnh chính trị, năng lực đối thoại. Sức thuyết phục cao nhất vẫn là chính sách đúng, cán bộ gương mẫu, vấn đề chính đáng của Nhân dân được giải quyết.
Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, vừa giữ kỷ luật, vừa cảnh báo sớm, tháo gỡ khó khăn; tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, nguồn lực lớn, vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, điểm nghẽn nào được tháo gỡ, người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì; không chờ hậu quả mới kiểm tra, xử lý.

Kết quả phải gắn với đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, người đứng đầu; nơi làm tốt phải nhân rộng, nơi trì trệ phải xử lý. Không lấy cuộc họp, văn bản, báo cáo thay kết quả; không đo công tác tư tưởng bằng số tin, bài, mà bằng khả năng phát hiện sớm, giải thích đúng, xử lý nhanh, củng cố niềm tin. Nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng, hiệu quả thực tế.

Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Phát huy giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, báo chí, Nhân dân; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét cả trách nhiệm thực hiện và bất cập cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, không lấy chính sách bao biện cho yếu kém. Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở đời sống và niềm tin của Nhân dân.

Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Đảng ủy Quốc hội thể chế hóa, giám sát; Đảng ủy Chính phủ bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện. Địa phương cụ thể hóa sát thực tiễn; người đứng đầu chịu trách nhiệm đến cùng; bảo đảm liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện, giám sát.

Thưa các đồng chí,

Cả 6 văn kiện cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ tiên phong, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm; quản trị thông suốt; tổ chức lại không gian phát triển; đưa du lịch thành động lực tăng trưởng, phát huy mọi nguồn lực dân tộc.

Ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, địa phương, người đứng đầu phải xác định nhiệm vụ trọng tâm; giao đúng người, đủ thẩm quyền, nguồn lực; rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm. Việc đã rõ phải làm ngay; thuộc thẩm quyền phải quyết định; vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án xử lý.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:"Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi". Cả 6 văn kiện đã rõ chủ trương, mục tiêu; điều quyết định là tổ chức thực hiện và trách nhiệm người đứng đầu. Mỗi văn kiện phải thành việc cụ thể, có người chịu trách nhiệm, được kiểm chứng bằng kết quả; cuối cùng phải làm đất nước mạnh hơn, Nhân dân sống tốt hơn, niềm tin vững chắc hơn.
Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tinh thần tiên phong của cán bộ và sức sáng tạo của Nhân dân, tôi tin tưởng 6 văn kiện nhất định đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí./.

Truyền thông quốc tế ghi nhận những thành tựu của Việt Nam sau 40 năm Đổi mớiNhân dịp Quốc khánh Việt Nam 2/9, một số cơ...
03/09/2026

Truyền thông quốc tế ghi nhận những thành tựu của Việt Nam sau 40 năm Đổi mới

Nhân dịp Quốc khánh Việt Nam 2/9, một số cơ quan truyền thông quốc tế đã đăng tải các bài viết nhìn lại chặng đường phát triển của Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, tập trung vào những thay đổi về kinh tế - xã hội và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Diện mạo mới sau 40 năm Đổi mới

Trong bài viết đăng ngày 1/9, báo Regeneración của Mexico nhắc lại dấu mốc ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Theo tác giả, thắng lợi của Việt Nam trong các cuộc kháng chiến đã trở thành nguồn cảm hứng đối với nhiều phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên thế giới.

Từ dấu mốc lịch sử đó, bài viết chuyển sang những thay đổi của Việt Nam trong 40 năm Đổi mới. Regeneración cho rằng Việt Nam đã đạt những thành tựu kinh tế - xã hội có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng để bước vào một giai đoạn phát triển mới. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm; năm 2024 tăng 7,09% và năm 2025 tăng 8,02%.

Theo bài viết, những thành quả kinh tế đi cùng những cải thiện đáng kể về đời sống và phúc lợi xã hội. Tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành cao hàng đầu thế giới, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế hơn 94% vào năm 2024; hơn 96% số hộ gia đình được tiếp cận nước sạch, dịch vụ vệ sinh và điện.

Cùng với phát triển trong nước, Việt Nam được Regeneración đánh giá là một trong những nền kinh tế có mức độ mở cửa và hội nhập cao trên thế giới, với 17 hiệp định thương mại tự do đang có hiệu lực với 60 đối tác. Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là một trung tâm sản xuất mới của châu Á, nhất là trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ và sản phẩm chiến lược. Hệ thống đường cao tốc, sân bay, cảng biển và mạng lưới điện quốc gia được đầu tư cũng góp phần hỗ trợ công nghiệp hóa và tăng trưởng.

Bài viết đặc biệt đề cập cuộc cải cách hành chính được triển khai năm 2025. Theo đó, bộ máy hành chính được tinh gọn còn 3 cấp, gồm trung ương, cấp tỉnh và cấp xã; số đơn vị hành chính cấp tỉnh được sắp xếp từ 63 xuống còn 34. Regeneración coi đây là bước đi nhằm tinh gọn bộ máy, sử dụng hiệu quả nguồn lực và đặt người dân ở vị trí trung tâm của chính sách phát triển.

Về định hướng thời gian tới, Regeneración dẫn các mục tiêu được xác định tại Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó Việt Nam tiếp tục theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, hướng tới trở thành người bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Tác giả Pedro Gellert nhận định những thành tựu của Việt Nam cho thấy khả năng kết hợp giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và hội nhập quốc tế. Theo tác giả, kinh nghiệm phát triển của Việt Nam đã vượt ra ngoài phạm vi một câu chuyện quốc gia, trở thành nguồn tham khảo đối với các dân tộc trên thế giới trong nỗ lực xây dựng một xã hội nhân văn, đoàn kết và thịnh vượng.

Kênh thông tấn KPL của Lào cũng nhìn lại quá trình phát triển của Việt Nam từ khi bắt đầu Đổi mới. Dẫn lời Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Minh Tâm, KPL cho biết, năm 1986, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam dưới 100 USD, trong khi đến năm 2025 quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD. Tổng kim ngạch thương mại đạt hơn 930 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

KPL đồng thời đề cập việc Việt Nam sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước và lần đầu tiên vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong năm 2025. Theo nguồn tin này, đây là nền tảng để đổi mới quản trị quốc gia, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thúc đẩy phát triển bền vững.

Hội nhập sâu rộng, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới
Đề cập kết quả phát triển trong những tháng đầu năm 2026, KPL cho biết GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm tăng 8,18%, mức tăng cao nhất trong 6 tháng đầu năm kể từ năm 2011. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1%, trong khi tổng vốn FDI đăng ký đạt hơn 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ 2025. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục có những bước tiến mới; phát triển kết cấu hạ tầng đạt nhiều đột phá.
Về đối ngoại, KPL nhấn mạnh Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có toàn bộ 193 nước thành viên Liên hợp quốc; tổng số đối tác có quan hệ từ mức đối tác toàn diện trở lên là 45 nước.

Trong khi đó, trang The Diplomatic Network (DNA) ngày 2/9 nhận định, từ khi bắt đầu Đổi mới năm 1986, Việt Nam từng bước khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, mở rộng thương mại quốc tế và tạo thêm cơ hội cho đầu tư nước ngoài. Quá trình này được thúc đẩy khi Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và sau đó gia nhập WTO năm 2007.

Theo DNA, sản xuất và xuất khẩu tăng trưởng nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực dệt may, giày dép và điện tử, đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất công nghiệp châu Á. Quá trình chuyển đổi sau đó vượt ra ngoài lĩnh vực sản xuất giá rẻ khi điện tử, công nghệ và sản xuất ngày càng tinh vi trở thành những động lực chính của tăng trưởng.

Những thay đổi kinh tế cũng được DNA phản ánh qua đời sống xã hội. Quá trình đô thị hóa làm thay đổi diện mạo các thành thị và nông thôn. Các doanh nghiệp mới, công ty công nghệ và nền kinh tế số phát triển song song với các cộng đồng nông nghiệp truyền thống.

"Ngành du lịch đã phát triển song song với sự chuyển đổi kinh tế đó. Các di tích lịch sử, ẩm thực, phong cảnh và truyền thống văn hóa của Việt Nam đã biến nơi đây trở thành điểm đến ngày càng phổ biến đối với du khách quốc tế", DNA viết, đồng thời dẫn chứng, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

Từ góc nhìn của Ngân hàng Thế giới, quá trình cải cách kể từ năm 1986 đã giúp Việt Nam chuyển từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một nền kinh tế thu nhập trung bình năng động chỉ trong một thế hệ. World Bank gọi đây là “một câu chuyện thành công đáng chú ý về phát triển”, đồng thời ghi nhận những cải thiện về giảm nghèo, giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng.
Để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, World Bank cho rằng Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng năng suất, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, mở rộng khả năng tiếp cận vốn và công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời đầu tư vào nguồn nhân lực.

Thái Hà
Báo CAND

8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mớiTrong Nghị quyết số 25-NQ/TW về ...
03/09/2026

8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

Trong Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, Bộ Chính trị đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có 3 nhóm giải pháp đột phá.

HOÀNG HÀ

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mớiTrong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chi...
03/09/2026

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

Trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, Bộ Chính trị đã nêu rõ các mục tiêu tổng quát.

HOÀNG HÀ
Báo Nhân dân

Quan điểm chỉ đạo về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mớiTheo Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Ch...
03/09/2026

Quan điểm chỉ đạo về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

Theo Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt phương châm "Chủ động-Sắc bén-Thuyết phục-Hiệu quả".

BÔNG MAI

Báo Nhân dân

03/09/2026

Video: Học, thực hành theo Bác: "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" - Quá trình tự soi, tự sửa thường xuyên

Trong tư tưởng và di sản đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” không chỉ là những chuẩn mực đạo đức dành cho mỗi con người, mà còn là những phẩm chất đặc biệt quan trọng đối với cán bộ, đảng viên. Người từng căn dặn: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Phương Dung - Bích Hảo/TTXVN

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trịThực hiện the...
03/09/2026

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị

Thực hiện theo Kế hoạch số 15-KH/BTGTW ngày 21/8/2026 của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị vào ngày 3/9/2026 tại Phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội, kết nối đến điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và điểm cầu cấp cơ sở.

Nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về “Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về “Phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới”; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về “Công tác người Việt Nam ở nước ngoài”; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 về “Phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới”; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về “Phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới”; Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

Address

Km5, Phường Đề Thám, Thành Phố Cao Bằng
Cao Bang
21003

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CAO BẰNG HÔM NAY posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to CAO BẰNG HÔM NAY:

Shortcuts

Share