TIN ĐỨC LẬP

TIN ĐỨC LẬP Cập nhật tin tức về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...

03/10/2026

Thúc đẩy hợp tác nghị viện Việt Nam-Mexico đi vào thực chất

Hai bên nhất trí việc tăng cường trao đổi kinh nghiệm ở cấp chuyên môn sẽ góp phần củng cố hiểu biết lẫn nhau, đồng thời tạo thêm nền tảng cho hợp tác nghị viện giữa Việt Nam và Mexico.

Trong khuôn khổ các hoạt động đối ngoại năm 2026 của Quốc hội Việt Nam, từ ngày 28/9-2/10, Đoàn công tác Văn phòng Quốc hội do Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Phạm Đình Toản dẫn đầu đã có chuyến thăm, làm việc tại Mexico.

Theo phóng viên TTXVN tại Mexico, chuyến công tác nhằm trao đổi kinh nghiệm thực tiễn giữa cơ quan lập pháp hai nước trong tổ chức và vận hành hoạt động của Quốc hội, nâng cao năng lực bộ máy tham mưu-phục vụ Quốc hội, công tác tổ chức, điều hành các phiên họp, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chuyển đổi số.

Tiếp đoàn tại trụ sở Hạ viện Mexico, Chủ tịch Nhóm Nghị sỹ hữu nghị Mexico - Việt Nam, Hạ nghị sỹ Ana Karina Rojo Pimentel, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Phúc lợi Hạ viện Mexico, bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam, nhấn mạnh chuyến thăm là bước hiện thực hóa chương trình nghị sự giữa hai Quốc hội, góp phần thúc đẩy ngoại giao nghị viện đi vào thực chất.

Tại cuộc gặp, bà Ana Karina Rojo Pimentel cũng đã giới thiệu với đoàn công tác Văn phòng Quốc hội Việt Nam về cơ cấu tổ chức của Hạ viện, phương thức tổ chức và điều hành các phiên họp, qua đó chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động của cơ quan lập pháp Mexico.

Trong khi đó, làm việc với Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mexico Pedro Vázquez González, hai bên trao đổi về hoạt động đối ngoại nghị viện và khả năng tăng cường hợp tác giữa Quốc hội hai nước.

Tại buổi làm việc, Thư ký Kỹ thuật Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Gonzalo Badillo giới thiệu về cơ chế tham mưu, phục vụ hoạt động đối ngoại nghị viện tại Hạ viện Mexico.

Phát biểu tại các cuộc làm việc, ông Phạm Đình Toản cho biết chuyến công tác nhằm nghiên cứu, tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc Quốc hội Mexico, qua đó trao đổi những kinh nghiệm thực tiễn có thể tham khảo trong quá trình nâng cao chất lượng công tác tham mưu, phục vụ Quốc hội Việt Nam.

Tại Hạ viện Mexico, đoàn đã thăm quan trụ sở của cơ quan này, đồng thời dự trực tiếp phiên họp toàn thể, qua đó tìm hiểu thực tế phương thức tổ chức, điều hành hoạt động nghị trường.

Cũng trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn đến thăm, làm việc tại Thượng viện Mexico và tham quan, khảo sát trụ sở cơ quan này. Tại cuộc làm việc với bà Yeidckol Polevnsky, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại châu Á-Thái Bình Dương của Thượng viện, hai bên trao đổi về hoạt động của Quốc hội Mexico, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan của Thượng viện và công tác hỗ trợ hoạt động đối ngoại nghị viện.

Hai bên nhất trí việc tăng cường trao đổi kinh nghiệm ở cấp chuyên môn sẽ góp phần củng cố hiểu biết lẫn nhau, đồng thời tạo thêm nền tảng cho hợp tác nghị viện giữa Việt Nam và Mexico.

Phát biểu tại cuộc gặp, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Phạm Đình Toản cảm ơn phía Mexico đã dành thời gian trao đổi chuyên sâu với đoàn, đồng thời đánh giá cao những kinh nghiệm thực tiễn được chia sẻ về tổ chức bộ máy, quy trình phục vụ các phiên họp, quản lý thông tin, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ số.

Bà Yeidckol Polevnsky đánh giá chuyến công tác là cơ hội để các cơ quan nghị viện hai nước tăng cường trao đổi chuyên môn, đồng thời nhấn mạnh vai trò của bộ máy tham mưu, phục vụ trong việc bảo đảm hoạt động hiệu quả của Quốc hội.

Trước đó, đoàn công tác đã làm việc với Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, dâng hoa tại Khuôn viên Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Công viên Tự do cho các dân tộc tại trung tâm thủ đô Mexico City. Được xây dựng từ năm 2009, phỏng theo tấm ảnh do nghệ sỹ Đinh Đăng Định chụp khi Người ngồi làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cho quan hệ hữu nghị, đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam-Mexico./.

Nguồn: vietnamplus.vn




03/10/2026
03/10/2026

Quy định số 220: Cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo

Cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ theo Quy định số 220-QĐ/TW được áp dụng đối với đề xuất đổi mới, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trừ các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều này.

Thay mặt Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quy định số 220-QĐ/TW ngày 30/9/2026 về cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, khuyến khích, ghi nhận và bảo vệ những cán bộ có đề xuất đổi mới, sáng tạo mang lại giá trị thiết thực.

Ban hành kèm theo Quy định này gồm 4 Phụ lục gồm: Các lĩnh vực ưu tiên; Báo cáo đề xuất và trình tự, thủ tục xem xét, phê duyệt, triển khai đề xuất; Hội đồng tư vấn, giám sát thực thi và quản trị rủi ro; Trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp bảo vệ và xem xét không xử lý, miễn, giảm trách nhiệm.

Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, Quy định này quy định nguyên tắc, điều kiện, tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp tôn vinh, trọng dụng, bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (sau đây gọi là cán bộ đổi mới, sáng tạo); trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ, cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu.

Quy định này áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (sau đây gọi chung là cán bộ) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo quy định, có 6 nguyên tắc tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ. Cụ thể gồm:

Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; bảo đảm thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Cán bộ đổi mới, sáng tạo có đề xuất được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thực hiện đúng chủ trương, quy định và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước, ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị thì được khuyến khích, ghi nhận, tôn vinh, khen thưởng, trọng dụng và bảo vệ theo quy định. Cơ chế khuyến khích, bảo vệ được áp dụng từ khi đề xuất ý tưởng đến khi kết thúc thực hiện, bảo đảm tập trung dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch.

Phân định rõ, khách quan, hợp lý giữa rủi ro, sai sót do nguyên nhân khách quan hoặc pháp luật chưa đầy đủ, đồng bộ với hành vi cố ý vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vì vụ lợi, lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm. Việc đánh giá trách nhiệm phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể, xem xét toàn diện quá trình thực hiện, động cơ, mục đích, thẩm quyền, mức độ lỗi, khả năng dự báo, kiểm soát rủi ro và kết quả; không chỉ căn cứ hậu quả xảy ra để quy kết trách nhiệm mà còn xem xét kết quả, lợi ích đạt được. Tổ chức, cá nhân để xảy ra sai sót phải kịp thời khắc phục, rút kinh nghiệm, phòng ngừa tái phạm.

Tuân thủ các tiêu chí, điều kiện, trình tự theo quy định; bảo đảm tôn vinh, trọng dụng, bảo vệ đúng đối tượng, nội dung, động cơ, mục đích, vì lợi ích chung. Cán bộ phải chủ động báo cáo, xử lý xung đột lợi ích theo quy định, bảo đảm công khai, minh bạch.

Bảo đảm hài hoà giữa phát huy đổi mới, sáng tạo với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Ưu tiên xem xét, bố trí nguồn lực, áp dụng cơ chế hỗ trợ và tạo điều kiện thử nghiệm theo thẩm quyền đối với đề xuất thuộc các lĩnh vực quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quy định này.

Về phạm vi áp dụng, Điều 4 của Quy định nêu rõ: Cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ theo Quy định này được áp dụng đối với đề xuất đổi mới, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trừ các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều này.

Như vậy, không áp dụng Quy định này đối với đề xuất trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp hoặc thuộc một trong các trường hợp sau:

Gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; làm lộ bí mật nhà nước; làm thay đổi cấu trúc, bản chất, nguyên tắc của hệ thống chính trị.

Thực hiện thử nghiệm y sinh, dược phẩm, hoá chất chưa được chấp thuận, phê duyệt theo quy định gây nguy hiểm trực tiếp đến sinh mạng, sức khoẻ con người; gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng, để lại hậu quả lâu dài, khó khắc phục.

Làm thay đổi nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng cơ bản, phá vỡ nguyên tắc suy đoán vô tội, làm phát sinh nguy cơ oan, sai hoặc xâm phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền công dân.

Can thiệp trái pháp luật vào hệ thống tiền tệ, dự trữ ngoại hối, ngân sách nhà nước, gây nguy cơ mất an ninh, an toàn tài chính quốc gia.

Làm thay đổi nền tảng tư tưởng của Đảng hoặc định hướng sai lệch về nền tảng tư tưởng của Đảng, lịch sử, văn hoá dân tộc, mục tiêu, định hướng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Bốn nhóm đề xuất đổi mới, sáng tạo
Theo Quy định, các đề xuất đổi mới, sáng tạo được phân thành 4 nhóm: đột phá khâu thực thi; đột phá thể chế; mô hình thí điểm và không gian thử nghiệm có kiểm soát. Việc xem xét đề xuất phải căn cứ vào tính cấp thiết, hiệu quả thực tiễn, khả năng nhân rộng, cơ sở lý luận và thực tiễn, đồng thời có phương án tổ chức thực hiện và quản trị rủi ro rõ ràng.

Quy định xác định 7 lĩnh vực ưu tiên, trong đó có khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển; cải cách hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy; xây dựng Đảng, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững; giáo dục, đào tạo, văn hóa và chăm sóc sức khỏe nhân dân; xử lý các vấn đề thực tiễn phát sinh, tháo gỡ những điểm nghẽn do quy định pháp luật chưa đầy đủ, chồng chéo hoặc không còn phù hợp.

Tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ
Một nội dung quan trọng của Quy định là cụ thể hóa các hình thức ghi nhận, tôn vinh và trọng dụng cán bộ có thành tích đổi mới, sáng tạo. Cán bộ có đề xuất được phê duyệt, triển khai đạt kết quả cao, đóng góp rõ rệt cho sự phát triển chung được xem xét biểu dương, khen thưởng; kết quả thực hiện đề xuất là căn cứ quan trọng trong đánh giá, xếp loại, quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ.

Đối với những cán bộ có thành tích đột phá, mang lại hiệu quả đặc biệt xuất sắc, có khả năng lan tỏa và nhân rộng trên phạm vi cả nước, Quy định đặt ra cơ chế ưu tiên xem xét bố trí, bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn theo quy định; ưu tiên đưa vào quy hoạch cán bộ cấp chiến lược hoặc chức danh lãnh đạo cao hơn; giao chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm, chiến lược, đột phá và tạo điều kiện về nguồn lực, nhân lực để tiếp tục phát huy năng lực.

Cùng với cơ chế trọng dụng, Quy định dành sự quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ cán bộ trong quá trình thực hiện các đề xuất đổi mới, sáng tạo. Đối tượng được xem xét bảo vệ không chỉ là cán bộ trực tiếp đề xuất, tổ chức thực hiện mà còn bao gồm những người tham mưu, thẩm định, thành viên hội đồng tư vấn, giám sát, cán bộ phê duyệt và các cơ quan phối hợp có liên quan.

Các biện pháp bảo vệ được quy định cụ thể, từ bảo vệ vị trí công tác, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ đến bảo vệ danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp; xem xét không xử lý, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo thẩm quyền khi đáp ứng đầy đủ điều kiện.

Trường hợp cán bộ bị xem xét, xử lý không đúng, được cấp có thẩm quyền kết luận thực hiện đúng chủ trương, đúng quy định, có động cơ trong sáng vì lợi ích chung thì được xem xét phục hồi danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp.

Việc khôi phục các quyền lợi và xin lỗi, cải chính phải được thực hiện theo quy định, trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày có kết luận của cấp có thẩm quyền.

Đề cao trách nhiệm người đứng đầu
Quy định số 220-QĐ/TW nhấn mạnh yêu cầu phân định rõ rủi ro, sai sót do nguyên nhân khách quan, sai sót không cố ý với hành vi cố ý vi phạm vì vụ lợi, lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm. Việc xem xét trách nhiệm phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể, đánh giá toàn diện động cơ, mục đích, thẩm quyền, mức độ lỗi, khả năng dự báo, kiểm soát rủi ro và kết quả đạt được, không chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra để quy kết trách nhiệm.

Đồng thời, Quy định xác định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có việc lợi dụng chủ trương đổi mới, sáng tạo để cố ý làm trái, trục lợi chính sách, che giấu sai phạm; tự ý triển khai đề xuất khi chưa được phê duyệt; cản trở, gây khó khăn trong quá trình thẩm định, phê duyệt và bảo vệ cán bộ; lạm dụng quyền lực để trù dập, trả thù hoặc cố ý quy kết trách nhiệm khi không có căn cứ.

Đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu, Quy định yêu cầu chủ động phát hiện, giao nhiệm vụ mới, việc khó, vấn đề tồn đọng kéo dài; gắn giao nhiệm vụ với giao quyền, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm, tiến độ, nguồn lực và điều kiện thực hiện.

Người đứng đầu phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, lấy kết quả và hiệu quả thực thi làm căn cứ chủ yếu để đánh giá cán bộ; đồng thời chịu trách nhiệm nếu chậm quyết định, né tránh hoặc để công việc đình trệ, lãng phí nguồn lực, bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Để bảo đảm triển khai thống nhất, Ban Bí thư giao các cơ quan Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và cụ thể hóa các nội dung của Quy định.

Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng liên quan có trách nhiệm quán triệt, rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế, quy trình nội bộ, phân công rõ trách nhiệm trong tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, quản trị rủi ro, giám sát thực thi và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo.

Quy định số 220-QĐ/TW có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (30/9/2026). Các Phụ lục ban hành kèm theo Quy định này là bộ phận không tách rời của Quy định.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần sửa đổi, bổ sung, các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương kịp thời báo cáo Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) xem xét, quyết định./.


03/10/2026

Việt Nam - UNESCO là mô hình hợp tác thành công, năng động, thực chất và hiệu quả

Năm 2026 đánh dấu cột mốc 50 năm quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO (7/1976 – 7/2026). Nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn đã trả lời phỏng vấn báo chí về 50 năm quan hệ Việt Nam – UNESCO.

Được biết năm nay tròn 50 năm Việt Nam tham gia UNESCO (1976–2026), Thứ trưởng đánh giá thế nào về quan hệ Việt Nam và UNESCO qua chặng đường 50 năm này?

Nhìn lại 50 năm, có thể nói Việt Nam đã đi từ một thành viên được UNESCO hỗ trợ trở thành một đối tác chủ động đóng góp và khởi xướng. Quan hệ Việt Nam – UNESCO được UNESCO và các quốc gia thành viên đánh giá là một trong những mô hình hợp tác thành công, năng động, thực chất và hiệu quả. Điều đó thể hiện qua bốn điểm.

Thứ nhất, vị thế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã đảm nhiệm tích cực, có trách nhiệm nhiều vị trí tại các cơ chế then chốt của UNESCO như Đại Hội đồng, Hội đồng Chấp hành, Ủy ban Di sản Thế giới, Ủy ban Liên Chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa.

Thứ hai, Việt Nam đã chuyển từ tham gia sang khởi xướng. Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” do Việt Nam đề xuất đã được Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43 thông qua (tháng 11/2025) với 72 quốc gia ủng hộ. Ngày 4/9/2026, sáng kiến tiếp tục được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua với 103 nước đồng bảo trợ, xác định giai đoạn 2027–2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững. Đây là lần đầu tiên sau gần 40 năm, cộng đồng quốc tế có một thập kỷ dành riêng cho văn hóa, cho thấy Việt Nam không chỉ là thành viên tích cực mà đã có khả năng đề xuất ý tưởng, tạo dựng đồng thuận ở tầm toàn cầu.

Thứ ba, độ tin cậy chính trị ngày càng sâu sắc. Chuyến thăm Trụ sở UNESCO tại Paris của Tổng Bí thư Tô Lâm tháng 10/2024 là lần đầu tiên người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đến thăm UNESCO, thể hiện thông điệp mạnh mẽ về cam kết của Việt Nam đối với chủ nghĩa đa phương và đối thoại văn hóa. Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Audrey Azoulay, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần thứ hai (6/2025), đã khẳng định Việt Nam là một trong những thành viên tích cực nhất tại UNESCO và là “câu chuyện thành công” trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Dự kiến đầu tháng 12 năm nay, Tổng giám đốc UNESCO Khaled El-Enany cũng sẽ thăm chính thức Việt Nam.

Thứ tư, kết quả hợp tác rất cụ thể. Tính đến tháng 9/2026, Việt Nam có 79 danh hiệu, di sản được UNESCO ghi danh, công nhận, hiện diện tại toàn bộ 34 tỉnh, thành phố. Riêng năm 2025, Việt Nam có thêm 7 danh hiệu, mức cao nhất trong nhiều năm. Những danh hiệu này không chỉ là niềm tự hào quốc gia mà còn là động lực phát triển bền vững của nhiều địa phương, góp phần làm giàu kho tàng di sản chung của nhân loại.

Thứ trưởng có thể cho biết các phương hướng chính trong quan hệ Việt Nam – UNESCO trong giai đoạn mới tới đây?

Bước sang nửa thế kỷ tiếp theo, Việt Nam tập trung vào bốn phương hướng chính.

Một là, phát huy vai trò nòng cốt trong triển khai Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027–2036. Là nước khởi xướng, Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với UNESCO – cơ quan chủ trì triển khai Thập kỷ – cùng nhóm nòng cốt và các đối tác để đưa Nghị quyết đi vào thực chất; trọng tâm là lồng ghép văn hóa vào chính sách phát triển, thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và giáo dục di sản gắn với sinh kế bền vững.

Hai là, tích cực vận động, ứng cử và phát huy vai trò thành viên tại các cơ chế then chốt của UNESCO, qua đó nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

Ba là, đồng hành, hỗ trợ địa phương và bộ, ngành xây dựng, vận động, bảo vệ hồ sơ danh hiệu UNESCO. Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam hiện đang hỗ trợ 23 địa phương thúc đẩy 48 hồ sơ thuộc nhiều loại hình khác nhau. Mục tiêu không chỉ là có thêm danh hiệu, mà là biến di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội và sức mạnh mềm của quốc gia.

Bốn là, tích cực, chủ động đề xuất sáng kiến, đăng cai tổ chức các hoạt động thực chất, có tầm vóc quốc tế của UNESCO. Từ ngày 28/9 đến 1/10/2026, Việt Nam đã phối hợp với UNESCO tổ chức thành công Hội nghị đối thoại châu Á – Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực với sự tham dự của 250 đại biểu trong nước và quốc tế, thông qua Văn kiện Hà Nội. Đây là lần đầu tiên tiếng nói, tri thức và thực tiễn của khu vực về tính xác thực được đúc kết trong một văn kiện, có tác động tới toàn bộ chu trình thực hiện Công ước Di sản thế giới.

Từ nay đến cuối năm, Bộ Ngoại giao và Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức Hội nghị quốc tế về Mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu ASEAN+4 (11/2026), Hội nghị tổng kết Mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển biển và hải đảo (11/2026); đón Tổng Giám đốc UNESCO Khaled El-Enany thăm chính thức Việt Nam và ký Thỏa thuận hợp tác Việt Nam – UNESCO giai đoạn 2026–2030 (12/2026).

Nếu 50 năm qua là hành trình Việt Nam hội nhập và đóng góp, thì với Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững, Việt Nam bước vào giai đoạn mới với vai trò cùng kiến tạo chương trình nghị sự văn hóa toàn cầu.

Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc



03/10/2026

Hợp tác gìn giữ, phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam và Campuchia

Bộ Quốc phòng Việt Nam và Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia tiếp tục phối hợp trong thúc đẩy, tuyên truyền về ý nghĩa, nội dung của Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia.

Ngày 2/10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia tổ chức Kỳ họp lần thứ IX về việc thực hiện các dự án xây dựng, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia tại Vương quốc Campuchia.

Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam; bà Samdech Men Sam An, Chủ tịch Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia làm trưởng đoàn phía Campuchia.

Tại buổi họp, Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu cho rằng trên nền tảng quan hệ tốt đẹp những năm gần đây, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, quan hệ hai nước Việt Nam-Campuchia tiếp tục phát triển hiệu quả; quan hệ chính trị không ngừng được củng cố, tăng cường. Những thành tựu hai nước đã đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng, thiết thực cho hợp tác củng cố độc lập, chủ quyền, phát triển phồn vinh, nâng cao vị thế của mỗi nước; góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển khu vực và thế giới.

Bà Samdech Men Sam An khẳng định Campuchia coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước đã được xây dựng dựa trên tinh thần láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và bền vững lâu dài.

Campuchia luôn ghi nhớ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã giúp giải phóng nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, ngăn chặn sự trở lại của chế độ diệt chủng và giúp Campuchia tái thiết đất nước.

Trưởng đoàn Campuchia cho rằng việc xây dựng Đài hữu nghị được sự thống nhất của lãnh đạo hai nước là một biểu tượng ghi nhớ mối quan hệ hữu nghị lịch sử, hợp tác toàn diện và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước trong sự nghiệp mang lại hòa bình cho đất nước.

Campuchia cam kết tiếp tục quan tâm và có trách nhiệm quản lý, giữ gìn, sửa chữa, tu bổ và tôn tạo Đài Hữu nghị Campuchia-Việt Nam; đồng thời tiếp tục phối hợp tuyên truyền về ý nghĩa và nội dung của Đài Hữu nghị Campuchia-Việt Nam tới người dân hai nước để củng cố, duy trì mối quan hệ hợp tác Campuchia-Việt Nam ngày càng bền chặt.

Tại Kỳ họp, hai bên đã cùng trao đổi, đánh giá kết quả triển khai các Dự án xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia; đánh giá cao những kết quả đã đạt đ­ược theo nội dung Biên bản Kỳ họp lần thứ VIII, ký ngày 15/10/2025, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thống nhất cho rằng việc triển khai các Dự án bảo đảm tiến độ, kết quả tốt.

Hai bên khẳng định Bộ Quốc phòng Việt Nam và Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia đã phối hợp chặt chẽ, tích cực kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai các Dự án xây dựng, tu bổ, tôn tạo các Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia.

Từ năm 2015 đến nay, phía Việt Nam đã hỗ trợ kinh phí để Campuchia xây dựng, tu bổ, tôn tạo 24 Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia và sửa chữa, nâng cấp trụ sở làm việc, cũng như hỗ trợ trang thiết bị, vật chất cho Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia.

Thời gian tới, hai bên tiếp tục phối hợp trong thúc đẩy, tuyên truyền về ý nghĩa, nội dung của Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia như là minh chứng cho tình đoàn kết, hữu nghị của hai quốc gia theo đúng phương châm “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”; qua đó giúp người dân hai nước nhận thức rõ ràng về ý nghĩa, tầm quan trọng của các Đài Hữu nghị, từ đó ra sức củng cố, vun đắp mối quan hệ hợp tác ngày càng bền chặt, gắn bó hơn nữa.

Hai bên nhất trí sau khi Bản ghi nhớ về việc bảo vệ và phát huy các Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia tại Vương quốc Campuchia giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Campuchia được ký kết; theo chỉ đạo, phân công của Chính phủ mỗi nước, hai bên tích cực, chủ động phối hợp tổ chức thực hiện các nội dung trong Bản ghi nhớ đảm bảo hiệu quả, thiết thực.

Hai bên tin tưởng với nền tảng quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương của hai chính phủ Việt Nam-Campuchia về việc bảo vệ và phát huy giá trị các Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia tại Vương quốc Campuchia./.

Nguồn:vietnamplus.vn





03/10/2026

Tháo gỡ "điểm nghẽn", đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới

Nhìn lại chặng đường triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW từ năm 2022 đến nay, một trong những dấu ấn nổi bật và mang tính đột phá nhất chính là sự chuyển biến sâu sắc trong công tác tổ chức và cán bộ.

Mới đây, tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu báo cáo sơ kết phải bám sát Nghị quyết, đánh giá đầy đủ, thực chất kết quả thực hiện trong phạm vi cả nước, nhất là từ sau khi sắp xếp lại tổ chức bộ máy.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ và cải cách hành chính

Nhìn lại chặng đường triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW từ năm 2022 đến nay, một trong những dấu ấn nổi bật và mang tính đột phá nhất chính là sự chuyển biến sâu sắc trong công tác tổ chức và cán bộ.

Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được trình bày tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào tháng 1/2026 đã khẳng định lần đầu tiên toàn Đảng hoàn thành việc bố trí 100% Bí thư cấp ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không phải là người địa phương.

Việc cụ thể hóa thành công tỷ lệ tuyệt đối này ở cả hai chức danh lãnh đạo cao nhất về mặt Đảng và chính quyền tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy năng lực thể chế hóa, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực của Đảng đã đạt tới sự đồng bộ cao. Kết quả này không chỉ phản ánh tinh thần chỉ đạo nhất quán, quyết liệt của Trung ương mà còn góp phần quan trọng vào việc khắc phục tình trạng cục bộ địa phương, nâng cao tính khách quan, minh bạch trong công tác quản lý và điều hành.

Cùng với việc kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt, thực tiễn thi hành Nghị quyết 28-NQ/TW cũng ghi nhận bước thay đổi căn bản trong tư duy về công tác cán bộ thông qua việc quán triệt nghiêm túc nguyên tắc "có vào, có ra; có lên, có xuống". Quyết tâm chính trị của Trung ương trong việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương đã dần xóa bỏ tâm lý yên vị trong bộ máy nhà nước. Điều này đã làm thay đổi căn bản tư duy về công tác cán bộ. Đã có hàng chục cán bộ cấp chiến lược và cán bộ diện Trung ương quản lý tự giác xin từ chức, thôi chức vụ hoặc chuyển sang nhiệm vụ khác sau khi bị xử lý kỷ luật, giảm sút uy tín, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Sự nghiêm minh gắn liền với tính nhân văn này đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự liêm chính, tinh gọn và vững mạnh của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Song song với những đột phá trong công tác cán bộ, phương thức ban hành văn bản và lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng cũng ghi nhận sự tinh gọn và nâng cao chất lượng rõ rệt. Tinh thần chỉ ban hành văn bản mới khi thật sự cần thiết đã được các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt sâu sắc, giúp giảm đáng kể số lượng chỉ thị, nghị quyết và kết luận so với các nhiệm kỳ trước.

Số lượng các chỉ thị, nghị quyết, kết luận ban hành mới không chỉ giảm mà còn khắc phục triệt để tình trạng dàn trải, trùng lặp. Các văn bản ban hành đều trải qua quy trình thẩm định nghiêm ngặt về tính khả thi, phân định rõ thẩm quyền, nguồn lực và tiến độ thực hiện.

Trong tổng thể đổi mới phương thức lãnh đạo, cải cách hành chính và đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng được xác định là khâu đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và giảm tải áp lực công việc cho cán bộ, công chức. Việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quyết định 204-QĐ/TW ngày 29/11/2024 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng đã mở ra một bước tiến trong việc hiện đại hóa công tác đảng.

Ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử được triển khai rộng rãi đến từng chi bộ, trở thành kênh thông tin tra cứu, học tập nghị quyết và quản lý đảng viên nhanh chóng, chính xác. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu cán bộ toàn quốc được xây dựng và chuẩn hóa theo tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống", kết nối liên thông giữa các cơ quan, phục vụ hiệu quả cho công tác quy hoạch, đánh giá và bố trí nhân sự.

Phương thức kiểm tra, giám sát cũng chuyển mạnh từ "xử lý hậu quả" sang "phòng ngừa từ sớm, từ xa". Việc kết hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán Nhà nước được duy trì thường xuyên, giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vi phạm từ khi mới phát sinh. Việc chủ động phát hiện, cảnh báo và xử lý nghiêm các sai phạm ngay từ khi mới phát sinh không chỉ giúp ngăn chặn nguy cơ thất thoát tài sản, nguồn lực của Nhà nước mà còn có tác dụng răn đe, góp phần giữ vững sự ổn định kinh tế, xã hội của đất nước.

Chuyển quyết sách thành kết quả thực tiễn

Về Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xem xét cách thực hiện vai trò lãnh đạo cầm quyền và cách cả hệ thống chính trị chuyển đường lối, chủ trương thành hành động và phải có kết quả cụ thể. Mục tiêu không chỉ hoàn thành một báo cáo hoặc là ban hành thêm một văn bản, mà phải nhận diện đúng vấn đề cản trở hiệu lực lãnh đạo cầm quyền; đề xuất cho được những chủ trương, cơ chế để tạo chuyển biến, nhất là yêu cầu trong giai đoạn mới.

Đánh giá thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW là nền tảng trực tiếp của Đề án, do đó các quan điểm, mục tiêu, nhóm nhiệm vụ giải pháp vẫn còn nguyên giá trị, phải tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Không vì nghiên cứu văn kiện mới mà chờ đợi hoặc xem nhẹ các việc mà Nghị quyết đã giao, đã bàn; phải kế thừa, bổ sung và phát triển Nghị quyết số 28-NQ/TW, không làm đứt quãng quá trình đổi mới mà nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ đã xác lập được.

Thông báo số 155-TB/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng ban hành đã truyền đạt kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong đó tập trung làm rõ 5 điểm nghẽn chủ yếu: Khoảng cách từ chủ trương của Đảng đến thể chế hóa và tổ chức thực hiện còn khá lớn. Ranh giới giữa lãnh đạo chính trị với quản lý nhà nước, giữa thẩm quyền tập thể với trách nhiệm người đứng đầu có nơi chưa rõ. Phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ với thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu và kiểm soát quyền lực. Năng lực nghiên cứu, dự báo, cảnh báo sớm chưa đáp ứng yêu cầu. Dữ liệu, phản hồi của nhân dân và kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa được sử dụng thường xuyên trong lãnh đạo, đánh giá.

Trước đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Đề án sơ kết cần tập trung nghiên cứu, làm rõ và hoàn thiện 7 nội dung cốt lõi. Đó là, thống nhất nhận thức, vận hành thực chất cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Nâng cao chất lượng toàn bộ quá trình từ xây dựng, ban hành chủ trương đến thể chế hóa, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá và điều chỉnh. Đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục, vận động; phát huy dân chủ thực chất, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Công tác tổ chức, cán bộ phải phù hợp với mô hình bộ máy mới. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực theo hướng chủ động phòng ngừa, phát hiện, cảnh báo, xử lý sớm. Phát huy trách nhiệm nêu gương, xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa liêm chính và trách nhiệm phục vụ nhân dân. Đổi mới phương pháp, lề lối làm việc; nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược, quản trị rủi ro và chuyển đổi số trong Đảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thống nhất tiếp tục nghiên cứu phương án xây dựng Nghị quyết mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, làm rõ những nội dung thực sự mới, đã chín, đã rõ, có đầy đủ cơ sở chính trị, lý luận, thực tiễn và bảo đảm tính khả thi.

Nghị quyết cần tập trung làm rõ phương thức Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền và cơ chế chuyển chủ trương, quyết sách thành kết quả; làm rõ nguyên tắc, trách nhiệm từ xây dựng chủ trương đến thể chế hóa, phân công, tổ chức thực hiện, kiểm tra, phản hồi, điều chỉnh. Không thu hẹp thành một quy trình hành chính, đồng thời không mở rộng thành nghị quyết tổng hợp về mọi mặt công tác xây dựng Đảng. Những lĩnh vực đã có nghị quyết, quy định, kết luận, chỉ thị chuyên đề chỉ tập trung xác định nguyên tắc, cơ chế và yêu cầu trực tiếp liên quan đến phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng…

Một yêu cầu căn cốt trong xây dựng dự thảo nghị quyết là phải ngắn gọn, đúng tầm, rõ quan điểm, mục tiêu tập trung, nhiệm vụ có tính đột phá; đồng thời chuẩn bị đồng bộ chương trình hành động, báo cáo giải trình, danh mục các văn bản cần sửa đổi, bổ sung, đảm bảo khi nghị quyết ban hành có thể triển khai được ngay.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là yêu cầu thường xuyên, trực tiếp gắn với năng lực lãnh đạo cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Điều quan trọng không chỉ là có chủ trương đúng mà phải tổ chức thực hiện nghiêm và đến cùng, tạo những chuyển biến rõ trong thực tiễn bằng những kết quả cụ thể; phải giữ vững nguyên tắc, đồng thời phải mạnh dạn đổi mới; lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện làm thay; phân cấp nhưng không buông lỏng kiểm tra, giám sát./.

Nguồn và ảnh: vietnamplus.vn








Address

Lê Duẩn/xã Đức Lập/tỉnh Lâm Đồng
Dak Mil

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TIN ĐỨC LẬP posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share