Strategos Publishing

Strategos Publishing Binh pháp, Lý luận Quân Sự, Quản trị chiến lược. An editor and Research office of TDF IDC.

10/05/2026

BÍNH THÂN TIÊU BIỂU: NGUYÊN SOÁI ZHUKOV
GREATEST FIELD MARSHAL

***Intro***
CÁC ĐẠI NGUYÊN SOÁI – SỰ THỰC HAY HUYỀN THOẠI?

Trong các nền văn hoá của phương Đông từ xa xưa tới nay, hai chữ “Đại tướng” luôn là một cụm từ chứa sức nặng, khát vọng và hào quang mà có lẽ, cậu bé hay người đàn ông nào cũng từng mơ tới.

Đó không chỉ là một cái danh hay khái niệm đơn thuần, mà đó là bảo chứng của năng lực cá nhân đã được chứng minh qua thực tiễn, được tập thể công nhận, và phải tích luỹ đi lên khó nhọc qua những chiến tích trong thời gian rất dài mới chạm tới được. Danh vị đó không tự dưng mà có, không thể nhận theo phương pháp như thừa kế, mua bán hay trao tặng. Nó là mồ hôi, nước mắt, thậm chí đổ xương máu trên chiến trường mới có được. Và khi đang nắm hay đã rời chức danh ấy, không đồng nghĩa với có được mãi mãi mà phải tuân theo kỷ luật của quân đội, trung thành với tổ chức và đất nước.

Với các nền văn hoá Tây phương từ thế kỷ 18 tới nay, họ cũng coi trọng chức vụ thống lĩnh quân đội, nhưng trách nhiệm và hình tượng của vị chủ tướng không có tầm ảnh hưởng mạnh như phương Đông. Mỗi người lính Âu Mỹ là một chiến binh độc lập, ngang hàng nhau khi có súng trong tay. Họ chiến đấu theo thế chủ động đi viễn chinh, theo ý muốn của giới nắm quyền lực công, nhằm đạt các ý đồ địa chính trị hay kinh tế phục vụ lợi ích của một giai cấp, hay nhóm thượng tầng nào đó. Quân nhân là một công việc được trả lương đi kèm phúc lợi. Ở một vài nước Tây phương, bộ trưởng quốc phòng là viên chức từ ngạch dân sự điều sang, và quân đội không được tham gia vào chính sự để phòng tránh việc bất tuân chính phủ dân sự, đảo chính.

Người lính phương Đông thì khác: trừ một vài chiến dịch mang mục tiêu đặc biệt vì hoàn cảnh bắt buộc, từ khoảng bảy mươi năm nay khi địa giới hành chính đã phân định rõ và sự ra đời của Hội Quốc Liên, hiếm khi một nước đem quân đi xâm lược nhằm chiếm lãnh thổ nước khác. Hầu hết các cuộc chiến là vệ quốc, thống nhất đất nước, dẹp nội loạn, đẩy lùi các xung đột cục bộ hoặc thiết lập một chính thể mới không còn đối nghịch cực đoan với nước phát động. Dùng bạo lực vũ trang đi chiếm đóng lâu dài nước khác gần như là bất khả thi ở thời kỳ hiện đại, vì sẽ bị lên án bởi quốc tế và bài toán chiến phí không thể bù đắp lợi ích kinh tế mang lại. Do ở vị thế phòng thủ, người lính phương Đông sẽ phải đoàn kết coi đồng đội như chính mình, và hoàn toàn chịu sự điều khiển của chỉ huy để hoàn thành mục tiêu cũng như sống sót. Và ở các nước phương Đông, quân đội thường luôn phải nằm dưới quyền của lãnh đạo chính trị.

Khi xưa, người ta có câu: “nhất tướng công thành, vạn cốt khô” để nói về cái giá phải trả của chiến thắng. Thời cổ đại cho tới ngày nay, bên bị tấn công bao giờ cũng chịu áp lực lớn hơn bên kia chiến tuyến. Gánh nặng này, dồn lên vai đại tướng tư lệnh một cách vô cùng lớn lao, cho tới khi xuất hiện khái niệm “hội đồng - bộ tổng tham mưu” từ khoảng đầu thế kỷ 20. Và thời hiện đại, với sự bùng nổ của giới kinh doanh, khái niệm “tướng” và “quân” đã xuất hiện dày đặc trong đời sống xã hội. Nhiều nơi, người ta còn gọi lãnh đạo là “tư lệnh ngành”, coi doanh nghiệp kinh tế như một đơn vị quân sự với những khái niệm điều hành tương đương. Nhiều nước, còn cảnh thụ phong quân hàm bừa bãi, cho cả động vật hay thân thích của vua chúa, hoặc vị trí này được đổi chác bằng các lợi ích tài chính để phục vụ cho thói háo danh của những kẻ trưởng giả thừa tiền. Có vẻ như cái gì quý giá, thì đều bị lạm phát trong nền kinh tế thị trường?

Không hẳn, vẫn có những người coi nghiệp phục vụ quân đội và đất nước là sứ mệnh vinh hạnh đi kèm trách nhiệm lớn lao:
“không, kính thưa các bạn,
chúng tôi vẫn chỉ xin là Đại Tá thôi….”

Hôm nay, nhân ngày Chiến thắng - V Day mùng 9 tháng 5, chúng ta thử cùng nhìn về một trong những đại tướng vĩ đại nhất mọi thời đại, của nhân loại nói chung, và nước Nga Xô Viết nói riêng:
Ngài Georgy Konstantinovich Zhukov.

Cùng tìm hiểu về quá trình đi lên của ông, cuộc đời phi thường nhưng cũng đầy thăng trầm, tột đỉnh vinh quang rồi nghiệt ngã cay đắng. Liệu Thống kê lịch sử và chiêm nghiệm mệnh lý có rút ra được điều gì tương quan về số phận cá nhân của Nguyên soái Zhukov nói riêng, với số mệnh của các Đại tướng lẫy lừng nói chung hay không?

Họ là những con người với trí tuệ vượt bậc trong màn trướng một tay có thể định được giang sơn đại cục, hay chỉ là thanh kiếm báu trời ban tuy sắc lạnh đầy uy dũng đánh đâu thắng đó, nhưng lại không thể tự định đoạt được số phận của chính mình?
Khi sứ mệnh kết thúc, thanh bảo kiếm sẽ nghỉ ngơi yên vị trong ngôi đền Thánh để người ta nhìn vào ngưỡng mộ, hay bị người cầm nó vứt bỏ không thương tiếc nơi đáy biển hoặc lò lửa?

1. BỐI CẢNH CỦA THẾ CHIẾN 2 – NƯỚC ĐỨC VÀ LIÊN XÔ
( Mục này đọc giả quan tâm đọc tại bài trên blog, không viết tại bài Facebook vì dài )

2. NGUYÊN SOÁI VĨ ĐẠI NHẤT

2a. Lý lịch và quá trình đi lên

Georgy Konstantinovich Zhukov sinh ngày 1/12/1896 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Strelkovka, tỉnh Kaluga. Năm 1915, theo lệnh động viên vào quân đội đế quốc Nga ông nhập ngũ, lập công và nhận huân chương thập tự thánh Georgy. Cách mạng tháng 10 năm 1917 nổ ra, Zhukov gia nhập Hồng quân Bolshevik. Trong 3 năm nội chiến Nga từ 1918 đến 1921, ông tiếp tục thăng tiến trong hàng ngũ.

Trước khi thế chiến 2 nổ ra, ông theo học tại học viện quân sự Frunze, tiếp xúc với các học thuyết hiện đại thời bấy giờ về chiến tranh có sự tham gia của các phương tiện cơ giới như xe tăng thiết giáp. Người Đức nhờ khả năng sản xuất công nghiệp nặng phục vụ quân sự và chế tạo ra động cơ đốt trong chạy diesel, họ đã thiết lập những binh đoàn cơ giới đầu tiên. Điều này khiến Zhukov ấn tượng và có những nghiên cứu từ sớm để tổ chức xây dựng lực lượng tương đương của Hồng quân. Từ một người lính kỵ binh, ông đã chuyển sang chỉ huy các đơn vị cơ giới.

Chiến tích đầu tiên của ông là tại trận "Khalkhin Gol" khi đánh bại quân Nhật tại lãnh thổ Mông Cổ năm 1939. Thắng lợi này đưa tên tuổi của ông lên hàng ngũ chỉ huy nổi tiếng toàn quốc. Đây là lần đầu ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng, phần thưởng cao quý nhất của nhà nước. Hai năm sau, vào 1941, ông được phong làm Tổng tham mưu trưởng, thành viên Bộ tổng tư lệnh tối cao STAVKA.

Tháng 9 năm 1941, Đức quốc xã mở cuộc tấn công Leningrad.
Tướng Voroshilov không thể cầm cự thêm, Zhukov được điều tới. Ông đưa ra quân lệnh giới nghiêm rất tàn khốc: ai tự ý rút lui, hoặc bỏ vị trí chiến đấu sẽ bị xử bắn ngay tại chỗ. Tinh thần binh lính phục hồi trở lại, phòng tuyến tạm thời ổn định. Người Đức buộc phải chuyển sang chế độ vây hãm kéo dài.

Tháng 10 năm 1941, Đức mở chiến dịch “Cuồng phong”, mục tiêu là Moskva. Zhukov được chỉ định làm tư lệnh phương diện quân phía tây bảo vệ thủ đô. Trước hoả lực mạnh, binh lính Liên Xô thiệt mạng rất nhiều, các lực lượng dự bị phải điều về từ nơi khác để bù đắp. Tuy nhiên, mùa đông Moskva năm ấy với cái lạnh kỷ lục là một thiên thời đứng về phía Zhukov. Ngày 5-12-1941, Nga lần đầu phản công lớn, Đức bị đẩy lùi ra bán kính 100-250km.

Mùa hè năm 1942, Đức lại kéo quân bao vây Stalingrad. Zhukov cho quân đánh nghi binh vào phía tây Moskva để không cho quân Đức ở đây tiếp viện, nhưng không thành công mà thương vong lớn cho quân Nga.

Suốt hai tháng 9 đến tháng 11, các đợt phản công lớn của chiến dịch Sao Thiên Vương (Uranus) diễn ra nhằm đánh vào hai bên sườn tập đoàn quân số 6 của Đức. 30 vạn quân bị tiêu diệt và bắt sống. Nga đã chuyển từ phòng thủ sang tiến công cấp chiến lược. Stalingrad trụ vững trong gần 900 ngày vây hãm, mặc dù hàng trăm nghìn dân thường chết vì đói rét.

Giữa năm 1943, Đức cố phản công chiếm lại thế chủ động tại vòng cung Kursk. Zhukov tập trung đánh vào lực lượng xe tăng chủ lực. Trong trận đấu tank lớn nhất lịch sử, Nga đã vô hiệu hoá phần lớn lực lượng này của Đức. Chiến thắng quyết định này khiến người Đức mất hoàn toàn thế chủ động vì con bài chính đã bị tiêu hao.
Mùa hè năm 1944, Zhukov chỉ đạo chiến dịch Bagration nhằm vào tập đoàn quân trung tâm của Đức ở Belarus. Trong trận này, phần lớn vùng Baltic và toàn bộ đất nước Belarus đã được giải phóng. Mặt trận phía đông của Hi**er sụp đổ. Tiếp đà thắng, đầu năm 1945, Nga đã thần tốc đánh tan 35 sư đoàn Đức, tiến nhanh tiếp 500km giải phóng Warsaw.

Tháng 4 năm 1945, tại trận cuối cùng, Zhukov cầm gần 1 triệu quân với súng phun lửa, 3000 xe tăng và một dàn 17000 khẩu trọng pháo tiến đánh Berlin.
Với hoả lực chế áp cường độ cao như vậy, Berlin sụp đổ nhanh chóng, ngày 2/5 tư lệnh pháo binh của Đức đầu hàng. Lá cờ đỏ chiến thắng kéo trên nóc toà nhà Quốc hội Đức. Ngày 8/5, Zhukov ký văn kiện Đức đầu hàng quân đồng minh.

Ngày 24/6/1945, Zhukov cưỡi bạch mã điểm binh trong lễ duyệt binh chiến thắng lịch sử tại Quảng trường đỏ, Moskva. Ông đi vào lịch sử như một biểu tượng chói lọi của chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

2b. Sự nổi tiếng của Zhukov dưới một góc độ khác

Trong vòng 100 năm trở lại đây, chỉ tính thời kỳ hiện đại trên phạm vi toàn cầu, có lẽ không ai vượt qua được đại tướng Zhukov về danh tiếng và tầm ảnh hưởng. Một vị tướng hiện đại hoạt động trong những hình thái chiến tranh mới, phương thức tác chiến cũng như tổ chức quân đội mới khác với chiến tranh cổ đại hay trung đại, thì cách mà vị tướng đó thể hiện tài thao lược cũng sẽ khác so với các nguyên mẫu kinh điển của thời kỳ trước.

Xưa kia những Alexander đại đế, Thành cát Tư Hãn, hay Napoleon đều là những vị tướng bách chiến bách thắng trên lưng ngựa, và thường phải trực tiếp điều binh nơi trận địa tiền phương. Nhưng ngày nay, nhờ công nghệ truyền dẫn thông tin liên lạc, tướng không còn nhất thiết phải có mặt ngay tại xa trường nữa.

G. Zhukov sinh ngày 1/12/1896 tức ngày mậu tý, tháng kỷ hợi, năm bính thân. Bính hoả toạ thân kim, như ánh sáng chói loá của mặt trời chiếu vào thanh kiếm. Trong thế chiến 2, người Đức với nền sản xuất cơ khí chế tạo, công nghiệp nặng luyện kim và công nghệ được coi là hiện đại nhất thế giới thời bấy giờ. Chống đỡ sự tấn công của họ không phải là chuyện đơn giản. Liên bang Xô Viết đã nhiều lần đứng trước những thử thách khắc nghiệt nhất, trên làn ranh đỏ cách vực sâu chỉ còn trong gang tấc. Đối đầu với một đội quân với vũ khí hiện đại, họ đã phải đánh đổi bằng sự hy sinh nhân mạng khó có thể tưởng tượng nổi: 27 triệu người đã ngã xuống. Tuy nhiên, khi vệ quốc thành công và tổ quốc vẫn đứng vững, đó sẽ là một trang lịch sử hào hùng cho tới hàng nghìn năm sau. Đó cũng là lời nhắc về tính nguy hiểm của chủ nghĩa phát xít hoá cực đoan, chủ nghĩa quân phiệt, chạy đua vũ trang và sử dụng công nghệ vào mặt tối của nó.

Phải chăng, thiên thời đã trao Zhukov cho người Nga như một nhân vật chủ chốt tạo nên cục diện cuộc chiến? Nếu không có ông, và nếu ông không sinh năm bính thân, liệu ngọn lửa vệ quốc có thể khuất phục được những cỗ xe tăng Đức hung hãn hay không? Chỉ hoả mới nung chảy được kim loại. Và Hi**er có lẽ đã không lường được mùa đông khắc nghiệt của nước Nga làm máy móc kim loại trở nên đóng băng tới mức nào.

Tất nhiên là còn những danh tướng khác của cả Nga và Đồng Minh góp phần tạo nên chiến thắng này, nhưng nổi tiếng nhất thì vẫn là Zhukov, người sinh năm bính thân. Với người sinh ngày mậu thổ, và là mậu tý, ông sẽ rất nóng và cương trực tới mức cực đoan vì đây là trụ ngày tự hợp, mậu hợp quý hoá thành hoả. Đó cũng là lý do ông trở nên mất quyền lực và bị cô lập trong những năm cuối đời. Ông cũng là một lãnh đạo với lập trường rất kiên định, do kiếp tài kỷ thổ hiện trên trụ tháng. Tuy có danh tiếng lớn về chuyên môn cầm quân, nhưng những kẻ phía bên kia chiến tuyến cũng không ít lần công kích ông là vị tướng “nướng quân”, con đường quan lộ cuối đời bị gãy đổ. Liêm trinh hoá kỵ can bính khi tốt thì có thể đưa một người lên đỉnh cao danh vọng trong những ngành liên quan đến vũ trang, sát phạt… nhưng khi xấu và hoạt động trong lĩnh vực chính trường thì thường dễ bị gãy đổ thất bại nhanh chóng vì những lý do nhạy cảm.

2c. Thăng trầm

Chỉ một thời gian ngắn sau chiến thắng, năm 1946 bính tuất, ông bị Trung ương cáo buộc có biểu hiện “không trung thành”, bị giáng chức, đi đày ở Odessa xa xôi. Nhóm thân cận của Stalin gồm Beria, Bulganin hạ bệ, bôi nhọ danh tiếng ông bằng những bằng chứng nguỵ tạo, cho rằng ông biển thủ chiến lợi phẩm, cất giấu tài sản phi pháp, phóng đại vai trò cá nhân…. Năm 1948, ông bị điều chuyển sang quân khu Ural còn hẻo lánh hơn. Stalin quyết tâm triệt hạ vị tướng tài này tới cùng.

Tháng 3/1953: Stalin mất, cuộc đấu tranh giành quyền lực thượng tầng chính trường Liên Xô trở nên gay gắt. Từ một nguyên soái quân đội, Zhukov thông qua việc bắt giữ và hạ bệ trùm mật vụ Beria đầy kịch tính, đã đứng về phía Khrushchev để trở lại con đường lãnh đạo cấp cao. Năm 1955, ông nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, uỷ viên trung ương.

Nhưng với người đàn ông sinh năm bính thân này, quan lộ có vẻ thật đầy trắc trở. Đó đang là thời kỳ mà tệ sùng bái cá nhân vẫn rất cực đoan ở Liên Xô, và nhất là Khrushchev e ngại vị tướng quân này sẽ làm bản thân mất tầm ảnh hưởng. Người đồng chí quay lưng bằng cách tổ chức một cuộc họp đột xuất và cáo buộc Zhukov lạm quyền, không phục tùng lãnh đạo tập thể, kiêu ngạo, tham vọng cá nhân…

Trước hội nghị, Zhukov vẫn bình tĩnh: "Tôi không chống đối. Nhưng tôi cho rằng quân đội cần được tổ chức khoa học. Không thể để chính trị can thiệp vào từng mệnh lệnh chiến đấu”. Ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh vệ quốc, bối cảnh quân đội Liên Xô được xây dựng song song cùng hệ thống chính uỷ, Zhukov vẫn có những kiến nghị về tổ chức quân đội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, coi trọng yếu tố công nghệ. Điều đó và danh tiếng cá nhân lớn đã khiến ông bị quy kết vào chủ nghĩa “Bonapartism”.
Tháng 10-1957, Zhukov bị cách chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tước mọi chức vụ, ép về hưu tại gia. Sự nghiệp lại gãy đổ một lần nữa trong lặng lẽ và cay đắng.

Sau khi bị loại bỏ đầy bất công, ông nghỉ hưu trong bình lặng. Thời gian còn lại, ông viết hồi ký “Nhớ lại và suy nghĩ”, về những trải nghiệm thời chiến tranh của bản thân.

Đến năm 1964, Khrushchev bị phế truất, Brezhnev khôi phục danh dự cho ông theo cách dần dần. Tuy nhiên, người ta vẫn e ngại và chỉ cho ông xuất hiện công khai tại một vài sự kiện trong vai trò khách mời danh dự.

Năm 1969, cuốn hồi ký của ông được phép xuất bản. Người dân mua nhiều khiến sách bán chạy, cho thấy họ vẫn nhớ và tin tưởng về ông. Zhukov không nói lời oán hận chế độ, chỉ ghi: "Tôi không tiếc công lao, chỉ tiếc cho đất nước, nơi người ta có thể quên đi chiến thắng chỉ vì sợ hãi quyền lực của một người lính”.

Tháng 6 năm 1974, Zhukov qua đời hưởng thọ 77 tuổi. Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức quốc gia, tro cốt được đặt tại trái tim của Kremlin – Moscow bên cạnh các nhân vật hàng đầu khác của chế độ. Gần một triệu người xuống đường đưa tiễn ông. Mặc cho thăng trầm quan lộ, Zhukov vẫn được nhân dân coi là anh hùng dân tộc.

Giai đoạn hậu Soviet, Liên Bang Nga đã có nhiều hành động thiết thực để trả lại danh dự cho đại tướng. Toà tối cao đã tuyên ông vô tội trước tất cả cáo buộc trước đây. Ngày nay, ông được vinh danh là một trong những vị tướng vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một trong những anh hùng có công lớn giúp nhân loại thoát khỏi hoạ nô dịch Phát xít. Các nghiên cứu lịch sử nghiêm túc cũng phủ nhận rằng ông là vị tướng “nướng quân”, từ những kẻ ganh ghét ác ý. Tượng đài ông đứng sừng sững trên Red Square Mockba, luôn dõi theo bao thế hệ bước đều trong ngày chiến thắng 9-5.

3. SỐ PHẬN CHUNG CỦA CÁC ĐẠI TƯỚNG

3a. “Binh là việc không lành”

Cổ nhân từng viết: Kẻ nào yêu thích việc binh đao, kẻ đó không đáng được trao quyền cầm quân hay giữ thiên hạ. Chiến tranh không phải trò đùa, đó là tai ương xảy ra, chỉ khi tình thế trở nên bắt buộc không còn phương cách nào khác. Và dưới góc độ lý luận quân sự, thì chiến tranh là thử thách toàn diện mọi mặt đời sống xã hội một quốc gia qua những giới hạn khắc nghiệt nhất. Do đó, người cầm quân đòi hỏi phải có những tố chất đặc biệt về độ bền, kiên cường cũng như chịu tải áp lực. Vị tướng không chỉ là chức danh với hào quang hay lợi ích, đó là trọng trách nặng nề phải gánh vác, và còn khó khăn hơn gấp nhiều lần vào thời chiến. Mỗi quyết định đưa ra sẽ ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp tới số phận của hàng vạn người lính bên dưới. Dù có các cơ quan tham mưu, vị tướng vẫn là người ra lệnh cuối cùng và chịu trách nhiệm về thành bại của chiến dịch. Khi thắng, ông là người nở nụ cười cuối cùng. Khi con tàu đang chìm, vị thuyền trưởng là người rời tàu cuối cùng hoặc chấp nhận ở lại cùng với nó.

Dưới góc độ mệnh lý, các vị tướng lớn thuộc lực lượng vũ trang thường là người chế hoá được thiên quan ở trụ năm, và có một đại vận phù hợp để thuận lợi cho thăng tiến hay chiến thắng. Khi mạnh, họ có danh tiếng hay uy quyền lớn, nhưng khi đi qua vùng vận tốt và thiên quan trong mệnh trở nên vô chế, họ sẽ gặp nhiều cảnh đắng cay trong đời như tật bệnh nghiêm trọng, lao ngục, bị đày ải, tấn công cá nhân hay lăng nhục bởi kẻ tiểu nhân. Vì thiên quan cũng như binh đao, vốn là thứ không lành. Nó mang tính uy vũ, áp đảo, khuất phục lấn át và cường bạo thâm thù, chứ không hài hoà chuẩn mực trung dung như mệnh cách chính quan.

3b. Bài học của Triệu Vân về sự nhạy cảm trong chính giới.

Câu chuyện trên không chỉ xảy ra ở Liên Xô. Trong cách mạng văn hoá tại Trung Quốc, nhiều vị thuộc hàng ngũ Công thần khai quốc, Thập đại nguyên soái cũng chịu cảnh tương tự Hàn Tín khi xưa: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Hạ Long… đều bị đám hồng vệ binh trẻ tuổi hăng máu đấu tố hạ nhục công khai, giam giữ tra khảo, đánh đập, lưu đày, không cứu chữa ốm bệnh …. Và họ còn bị liên luỵ tới cả gia đình người thân. Các vị lão tướng này đều bị vu cáo các tội danh như phản bội, quy chụp xét lại thông qua những bằng chứng nguỵ tạo, tài liệu giả.

Mao Trạch Đông được coi là nhân vật có tầm vóc chỉ sau Tần Thuỷ Hoàng. Ông sinh năm quý tỵ, mệnh tham lang hoá kỵ ở thân kim, là người cầm được tướng và là một đại cao thủ trong chính giới. Với nhân vật lịch sử đầy đủ công tội này, ông ta cũng có tư duy như những vị vua lập quốc trước đây và không muốn mất đi tầm ảnh hưởng của mình. Do đó các đại nguyên soái tuy không bị thanh trừng trực tiếp bởi Mao, mà bị hãm hại bởi bè lũ bốn tên mà đứng đầu là Giang Thanh và Lâm Bưu… Đó cũng giống như câu chuyện vua thường dùng tiểu nhân bức hại công thần, và sau đó lại trừng trị tiểu nhân để yên lòng dân chúng. Rất ít danh tướng có kết cục có hậu như Triệu Vân, vì họ thường quá cứng rắn trong tư duy. Triệu Vân không chỉ có dũng, ông còn có trí và mưu lược bao quát, biết dừng đúng lúc, không tỏ ra kiêu ngạo hay công cao át chủ, ít tranh giành công danh về mình, coi trọng gắn bó với lợi ích của nhân dân và thật may mắn là có một người chủ nhân hậu như Lưu Bị. Đây không chỉ là câu chuyện tầm cao vĩ mô, mà dường như nó là mô típ phổ biến ở bất kỳ tổ chức nào có nhân sự phân chia thứ bậc cao thấp, dù là công tay tư.

3c. Kết
Trong dịch lý có quẻ địa thuỷ sư, đó là hình tượng lão tướng trung chính, có kinh nghiệm từng trải, thì mới được cầm quân ra trận để tăng khả năng chiến thắng. Cũng như tấm gương Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã gác thù nhà, đặt việc nước lên trên khi quyết định không nghe theo lời trăng trối của cha là An Sinh vương Trần Liễu. Ông tận trung phò tá vua Trần, trọng dụng người tài dù từng có hiềm khích (như Trần Khánh Dư), dốc lòng lãnh đạo quân dân đánh tan giặc Nguyên Mông, giữ yên bờ cõi đất nước.

Trong các hình thái chiến tranh cổ đại, Đại tướng có vai trò quan trọng: họ là những công chức theo nghĩa thuần tuý sơ khai nhất. Khi họ thắng, nền độc lập và tự do của quốc gia được giữ vững. Nếu họ thua, cảnh mất nước nhà tan, người mất ít, người mất nhiều, kẻ mất hết. Khi thắng, vị tướng được quốc gia trả công lao xứng đáng, do đó họ không cần dùng uy tín hay chức vụ để mưu cầu thêm lợi ích. Và với kỷ luật thép đặc thù của quân đội, tham nhũng gần như là án tử. Do đó, với một xã hội đang trở nên quá thương mại hoá, vị kỷ cao độ và mất niềm tin vì nhiều thứ nhiễu nhương, người ta lại càng nhớ về những đại tướng bách thắng một lòng vì nước và trong sáng liêm khiết thuở xa xưa nhiều hơn…….

Trong Vu Cong
9-5-2026

27/04/2026

KỶ NIỆM 1088 NĂM TRẬN BẠCH ĐẰNG LẦN THỨ NHẤT

Viết nhân ngày 8/3 Âm lịch - Chính lễ trận Bạch Đằng

Nước Việt bắt đầu có từ bao giờ ?
Đó là câu hỏi mà chắc hẳn nhiều người đã từng băn khoăn.

Theo chính sử, nước ta thời Hùng Vương được gọi là Văn Lang. Đời vua Thục An Dương Vương (257-207 TCN) thì gọi là Âu Lạc. Khi Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc năm 179 trước Công nguyên, đó là khởi đầu của giai đoạn Bắc thuộc lần thứ nhất. Thời kỳ này kéo dài đến năm 40 với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Năm 43, Mã Viện đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Bắc thuộc lần 2 kéo dài đến năm 541 với cuộc khởi nghĩa của Lý Bí lập ra nước Vạn Xuân. Ba thế kỷ tiếp theo, nhà Tuỳ và Nhà Đường lần lượt đô hộ nước ta tới tận năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ. Và đến năm 938, chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất của Ngô Quyền đã chấm dứt hoàn toàn ách cai trị của phương Bắc. Đinh Bộ Lĩnh đã kết thúc loạn 12 sứ quân để mở ra kỷ nguyên mới, với nền độc lập lâu dài của nước Việt Nam ta.

Vậy có thể nói, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là một trong những sự kiện có tầm vóc quan trọng bậc nhất đối với lịch sử Việt Nam. Trong suốt 1000 năm, dù bị chính sách cai trị hà khắc: sưu cao thuế nặng, bắt di dân, đồng hoá văn hoá nhằm biến nước ta thành một quận của Trung Nguyên, người Việt vẫn kiên cường giữ vững phong tục tập quán, giữ bản sắc riêng, tiếng nói riêng để chờ thời cơ nổi dậy khởi nghĩa giành độc lập về tay.

1. Bối cảnh trận thuỷ chiến

Năm Đinh Mão 907, nhà Đường bên Trung Hoa bị mất ngôi. Trước đó, loạn lạc cướp bóc nổi lên khắp nơi. Triều đình ở trung ương không còn đủ mạnh để quản được các nước chư hầu dẫn tới cảnh ai có thế lực mạnh thì tự xưng vương. Ở quận Giao Chỉ, có vị tên Khúc Thừa Dụ là phú hào trong xứ Ninh Giang Hải Dương ngày nay được nhiều người tín phục. Năm bính dần (906) nhân cớ có loạn, phương Bắc cử ông lên làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ để cai quản đất Giao Chỉ. Năm sau nhà Đường kết thúc, Khúc Thừa Dụ mất, truyền ngôi lại cho con là Khúc Hạo.

Khúc Hạo nắm quyền, lập ra phủ, lộ, châu, xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa sang thuế má, cho con là Khúc Thừa Mĩ đi sứ Quảng Châu dò la nội tình bên Tàu. Cai trị đất Quảng Châu là Lưu Ẩn, có em trai là Lưu Cung, khi anh mất thì tự xưng đế là vua Nam Hán. Khúc Thừa Mĩ không thần phục nhà Nam Hán, do đó năm 923 Cung sai tướng đem quân sang đánh, bắt được Mĩ rồi cho người khác làm quan trấn giữ đất này.

Năm 931, cựu tướng của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ mộ quân đánh đuổi chính quyền do vua Nam Hán sắp đặt. Ông tự xưng là Tiết độ sứ, cầm quyền được 6 năm thì bị nha tướng là Kiều Công Tiễn ám sát, cướp lấy binh quyền.

Có tướng cũ của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền, người quê ở làng Đường Lâm Sơn Tây dấy binh đánh để báo thù cho chúa. Kiều Công Tiễn sang cầu cứu nhà Nam Hán. Thái tử Hoàng Tháo dẫn thuỷ quân đi trước, vua Nam Hán dẫn quân đi sau.

Tháng 10 âm lịch, năm mậu tuất 938.
Thuỷ quân của Tháo vào gần đến sông Bạch Đằng thì ở Giao Chỉ, Ngô Quyền đã bắt - giết được Công Tiễn. Ông cho người làm cọc gỗ từ thân cây lớn bọc sắt nhọn ở đầu, cắm thành bãi cọc ngầm ở các vị trí hiểm yếu có biên độ con nước lên xuống lớn dưới lòng sông. Chờ lúc thuỷ triều lên, thì cho quân với thuyền nhỏ cơ động ra khiêu chiến xong giả vờ rút lui. Chiến thuyền của quân Nam Hán đuổi theo, lúc nước xuống, Ngô Quyền cho quân phục binh ra đánh ập lại. Quân Hán chạy, thuyền va vào cọc cái thủng cái mắc cạn nghiêng ngả. Hoàng Tháo bị bắt, quân thuỷ bị diệt quá nửa. Vua Nam Hán nghe tin con trai tử trận thì kêu khóc rồi đem quân về, từ đó không dám mưu đồ bình định phía nam nữa.

Ngô Quyền trong thì dẹp nội phản, giết được nghịch tặc báo thù cho chủ, ngoài thì phá được cường địch bảo toàn cho nước, thật xứng danh anh hùng thiên cổ. Cái gông ách Bắc thuộc một nghìn năm xiềng xích đã bị con người trung nghĩa này chém một nhát đứt làm đôi, mở đường cho Đinh, Lý, Trần, Lê sau này tự chủ hoàn toàn bờ cõi nước Nam.

Đó là trận thuỷ chiến lần thứ nhất trên sông Bạch Đằng, làm nền móng dựng nên nước Đại Việt của vua Đinh, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập. Kế thừa truyền thống chống xâm lược, sứ mạng giữ nước là trận Bạch Đằng lần 2 do vua Lê Hoàn lãnh đạo, đánh tan quân Tống xâm lược năm 981. Và lần thứ ba cũng tại dòng sông huyền thoại này, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân và dân đánh bại quân Nguyên Mông là đạo quân hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Trận đánh này đã tác động không nhỏ tới dã tâm chinh phạt thống trị toàn lục địa Á – Âu của nhà Nguyên. Từ đó, hệ quả của nó tác động rất lớn đến lịch sử châu Âu về sau. Ngay cả Trung Hoa cũng bị nhà Nguyên đô hộ 70 năm, đây là triều đại ngoại tộc đầu tiên chiếm quyền cai trị nước này.

2. Lý luận về địa lý đặc thù của nước Việt.

2a. Địa thế của Trung Hoa và hệ quả.

Nhìn về phương Bắc, chúng ta thấy Trung Nguyên đại lục là một bình địa lớn nằm ở vùng trung và hạ lưu sông Hoàng Hà. Đây là vùng đất bằng phẳng, màu mỡ thuận lợi cho nông nghiệp trồng lúa gạo nhất là canh tác lúa nước. Khi được mùa, dư thừa lương thực tạo điều kiện cho trao đổi buôn bán thương mại với những sản phẩm khác, tạo nên một nền nội thương và cả ngoại thương sầm uất. Mặt khác, dư thừa tích trữ lúa gạo tức người ta có thể không phải lo về cái ăn trong một khoảng thời gian nhất định, lúc hạn hán thiên tai hay địch hoạ, từ đó thúc đẩy thời gian cho nghiên cứu sáng tạo ra cái mới, đồng thời đẩy mạnh sự học tập tri thức tức lao động trí óc. Điều này cũng dẫn tới một nền hành chính có bề dày lịch sử lâu đời, bộ máy cai trị quan liêu mang tính bền vững và kế tục tiếp nối truyền thống, với một chính quyền lớn ở Trung Ương, và các chư hầu ở địa phương.

Sau một thời kỳ chiến loạn kéo dài để xác lập quyền lực bằng các hoạt động vũ trang trên chiến trường, học thuyết Khổng giáo với Tam cương, ngũ thường được ưu ái sử dụng bắt đầu từ thời Tây Hán. Nó trói buộc quyền và lợi ích của kẻ sĩ – những người muốn phấn đấu làm quan và làm bậc “quân tử”, với quyền lợi của giai cấp thống trị. Sự trung thành với chế độ của giới trí thức quan văn sẽ là nền tảng của công quyền, là cơ sở để một vương triều kéo dài dưới sự lãnh đạo thế tập của những bậc quân chủ kế thừa huyết thống của vị vua lập quốc.

Do tự coi mình là Thiên Tử (con Trời), các hoàng đế Trung Hoa thường coi các nước lân bang là chư hầu phiên thuộc. Lãnh đạo các nước quanh nước Tàu thời phong kiến thường phải để đích thân Vương, hoặc cử sứ thần sang nhận chiếu chỉ, sắc phong, nông lịch để đảm bảo tính “chính danh” về quyền lực lãnh đạo, sự bảo hộ của Hoàng đế. Đồng thời, để có qua có lại, các nước nhỏ cũng phải Triều cống, tức nạp những vật quý giá, sản vật đặc hữu hoặc nhân lực sang Trung Hoa phục vụ. Trong quá khứ, thời kỳ hoà bình ở các nước nhỏ thường kéo dài cho đến khi Trung Nguyên thay đổi triều đại, hoặc bộ máy trở nên quá cồng kềnh lại hà khắc, không còn gắn với quyền lợi của số đông dân chúng.

Có thể thấy, đồng bằng Trung Hoa đại lục là căn cơ để tạo nên một chế độ quản lý xã hội với những đặc tính như: ổn định, bền vững, đề cao sự uy tín, trách nhiệm và trung hậu. Có thể thấy đây chính là hình tượng của một ngọn đồi đất khô dày rất vững chãi, lâu bền không suy chuyển cả trăm năm, nghìn năm. Và núi thì thường có các mỏ kim loại sinh ra trong đó, như một chế độ thì phải có thiết chế, ban hành luật gốc và các luật pháp chi tiết để người sống trong chính thể đó tuân theo và thực thi. Không có luật thì người ta không thể biết cách hành xử sao cho đúng trong các trường hợp cụ thể, để đảm bảo quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mình đối với những người khác, và đối với cái chung tức xã hội. Tuy nhiên, khi luật gốc quá xa văn hoá nội sinh gốc, và các bộ luật bên dưới quá xa tập tính dân tộc, nó sẽ dẫn tới sự kém hiệu quả về thực thi, xa rời thực tế, tách rời quần chúng nhân dân, quá cứng nhắc và máy móc theo hướng cực đoan của trường phái Pháp Trị. Hệ quả là đề cao quá mức thủ tục hành chính, giấy tờ, gây phiền hà và kém hiệu quả, giảm năng suất lao động xã hội.

Trong hai nghìn năm qua, sức ảnh hưởng của quyền lực, văn hoá và kinh tế từ Trung Hoa tới các nước lân bang đồng văn đồng chủng là không thể phủ nhận. Với những dân tộc không có văn hoá nội sinh gốc, tôn giáo tín ngưỡng bản địa phân rã, tính sáng tạo yếu kém, thiếu tiếng nói chữ viết riêng, phong tục tập quán đặc thù thì copy mô hình từ Trung Nguyên về, modify cải biên một chút và áp vào luôn là quy trình vận hành đã rất phổ biến. Điều này thường dẫn tới nhanh chóng thiết lập trật tự xã hội cho nhà quản lý mới, không mất thời gian công sức đào sâu nghiên cứu, nhưng thường gây nên sự kém hiệu suất về sau. Cũng như câu chuyện một chiếc máy tính DELL đồng bộ hoàn toàn từ phần cứng đến phần mềm đặc chế sẽ cho hiệu suất công tác và độ bền tốt hơn một chiếc máy ráp từ các linh kiện cấu phần của các hãng khác nhau, năm cha ba mẹ.

Ngay tại Trung Hoa, nơi tập trung quyền lực về trung ương tuyệt đối, lịch sử thời phong kiến của họ cũng là những vòng lặp vô tận: xã hội hà khắc, thi cử gian lận nhằm đặc cách ưu ái các sĩ tử đặc biệt, thị trường mua bán chức tước sôi động, tham quan vơ vét giàu ngang quốc khố như Thạch Sùng, Lưu Cẩn, Hoà Thân, các đại gian thần khét tiếng tàn hại trung lương như Tần Cối, Đổng Trác, Nguỵ Trung Hiền… khiến hiền tài trung thần từ quan về… dạy học - làm ruộng, để bảo thân giữ mệnh khỏi quyền mưu quan trường. Lợi dụng quyền lực công để làm giàu là một chiêu phổ biến, không chỉ thời xưa ở Tàu mà thời nào và ở đâu thì cũng thế. Nên đã từng có một cuốn sách khá hay và nổi tiếng là “Tư bản thân hữu Trung Quốc” do giáo sư Minxin Pei viết, xuất bản tại Việt Nam năm 2018. Tất nhiên, lỗi chả hẳn là do “cơ chế”, mà tập tính người phương Đông luôn là vậy: nếu là đối diện con người với nhau, chưa chắc ai đã sợ ai. Nhưng trước công quyền, ai cũng phải cẩn thận…

Và như trong lịch sử Trung Quốc, các hoàng thân quốc thích bao giờ cũng bám vào uy quyền của Vua để được hành động tự do nơi mà họ quản lý, đôi khi là quá giới hạn nên người Tàu luôn mong ước có một Bao Công mặt sắt, thiết diện vô tư để đòi lại công bằng cho họ. Các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Trung Quốc gây cảnh loạn li kéo dài thường nổ ra khi dân quá đói tới mức bần cùng, tầng lớp quý tộc đặc quyền đặc lợi nhũng nhiễu, sưu cao thuế nặng quá mức để tài trợ cho những thứ hoành tráng nhưng phù phiếm như Cung điện nguy nga, hay lối sống xa xỉ của các Vương Phi tuyệt sắc khuynh thành. Người Tàu có câu: Trường Giang sóng sau đè sóng trước, há chẳng phải chỉ nói mỗi chuyện anh tài? Vậy tưởng như các bộ não quân cơ cao siêu nhất đã kiến thiết ra cơ chế vững chắc như ngọn núi, nhưng sự cứng nhắc đầy cầu toàn chi tiết ấy cuối cùng lại như con rắn cuộn tròn rồi ăn cái đuôi của chính nó? Núi sinh ra mỏ quặng sắt, nhưng ở khu mỏ sắt thì làm gì có cây sống được?

2b. Việt Nam

Trở lại Việt Nam, chúng ta xưa là một vùng đất thoải dần ra biển được núi hiểm trở vây hầu hết các mặt, chỉ còn phía vịnh Bắc Bộ là nơi giải phóng xung năng dân tộc. Đây được coi là vùng “lam sơn chướng khí”, đầm lầy cỏ lau xen kẽ núi đá vôi chằng chịt. Rừng thiêng, nước độc, ẩm thấp, sương mù và khí độc bốc lên ngột ngạt khiến người ngoại bang khi đến thường khó mà trụ được lâu dài vì sinh bệnh tật nhiệt đới, bị thú dữ côn trùng độc và mưa bão dữ dội hàng năm tấn công. Những người ở lại được miền bắc và miền trung Việt Nam là hậu duệ của những tổ tiên kiên cường nhất trong lịch sử loài người. Dù tài nguyên chất đốt và cái ăn từ rừng biển không thiếu trong ngắn hạn, nhưng điều kiện sống và phát triển dài hạn không hề dễ dàng.

Với mô hình quản lý xã hội, trong quá khứ dù từng chịu ách đô hộ bắc thuộc trong những quãng thời gian dài xen kẽ nên sự ảnh hưởng từ Trung Hoa là ít nhiều. Ảnh hưởng này kém đi từ thời nhà Nguyễn khi kinh đô không còn ở trung tâm đồng bằng bắc bộ, mà dời về miền Trung trong 143 năm. Hơn 100 năm từ 1862 – 1975, phía dưới đèo Ngang - dãy Hoành Sơn là ảnh hưởng của thuộc địa Pháp, và rồi là sự đổ bộ văn hoá kinh tế của người Mỹ trong hai thập niên.

Tại miền Bắc, tính đến năm 2026, mới là 72 năm giải phóng Thủ đô Hà Nội, vừa đủ một đời người. Các con số thống kê tuy khô khan, nhưng thường là nó không biết nói dối. Tàu đến – Tây đi như cảnh tít mù lại vòng quanh, đi đâu cho đời mỏi mệt như lời Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ?

Vì đặc thù địa lý, địa chính trị mang tính chiến lược toàn cầu, lịch sử pha trộn bởi văn hoá và khí hậu dữ dội như vậy, định chế của xã hội ta sẽ khác biệt khá nhiều so với phương Bắc. Chúng ta vẫn có sự vững chắc của thổ, nhưng chỉ là cố định mang tính “cứng” ở đồng bằng sông Hồng. Phương Đông tức khu 3 – Đông Bắc chịu ảnh hưởng của mộc, phương Nam tức khu 7 và khu 9 sẽ chịu ảnh hưởng bởi tính hoả rất nhiều, và chung lại:

Vì là đất nước trải dài giáp biển, tính thuỷ tức sự linh động không cứng nhắc về mọi thứ sẽ rất cao. Đó là lý do những trận thuỷ chiến và Hải quân luôn có tầm ảnh hưởng cực kỳ trọng yếu đối với lịch sử nước Việt Nam. Thuỷ là sự tự do, linh hoạt, là mưu trí và ngầm ẩn lắng đọng. Thổ lúc nào cũng muốn đi khống chế thuỷ, nhưng trong dài hạn là bất khả thi. Thông thường, thổ có thể khắc thuỷ như trộn bùn vào đất tạo nên cảnh nước đục béo cò, nhưng khi thuỷ mạnh lên, thì đê điều tan rã, núi lở đất vỡ…. Đó là điều mà thổ e ngại nhất.

3. Cứng nhắc hay linh hoạt?

Có thể thấy: một dân tộc đến từ nơi họ chọn làm vùng đất sinh sống. Khí hậu, thức ăn, nước uống, văn hoá, lịch sử, giáo dục và chủng tộc sẽ tạo nên tập tính mã gen đặc thù.

Ví dụ như nước Đức, một quốc gia phương Tây rất cứng nhắc, với những nhà triết học biện chứng, triết học duy tâm – phân tâm, phê phán lý tính có những câu nói và tác phẩm nghị luận hết sức hùng hồn, cứng rắn tới mức cực đoan. Giống như thanh kiếm hay tiếng chuông đồng, sắc bén chói loá và ngân vang hùng tráng dễ làm người đối diện bị “át vía”, nhưng người phương Đông đọc nó thì như đàn gảy tai trâu vậy. Tuy nhiên, lý chung luôn là cứng quá thì gãy. Chính xác và chuẩn mực tạo nên những đô thành quy hoạch vuông vắn ô bàn cờ, những nhà máy công nghiệp nặng được tổ chức xuất sắc, thành tích vật chất tăng trưởng kinh tế thần kỳ, những thiết chế xã hội làm ra làm chơi ra chơi, và hầu hết là làm việc không ngơi nghỉ. Nhưng phát triển tới hết dư địa luôn là sự thiếu hụt tài nguyên và thị trường dẫn tới khủng hoảng. Để giữ ổn định xã hội, họ phải tìm ra nguồn lực mới, nơi tiêu thụ mới hoặc mô hình tăng trưởng mới dựa trên đổi mới công nghệ kỹ thuật. Và đó là khởi nguồn của các cuộc đại thế chiến trong vòng 100 năm trở lại đây.

Phương Tây, vì chịu ảnh hưởng của hành kim, rõ ràng là họ rất cứng, và luôn cứng tới mức cực đoan. Nước Nga với quốc huy con đại bàng hai đầu thì thường là tính hoả nóng như ngọn lửa hồng phương Đông, nhưng lúc nó quay đầu về phía Tây thì cũng cứng rắn vô cùng. Khi nhắc đến phương Tây, người ta thường nói về tư duy lý tính và phương Đông là cảm tính. Tuy nhiên dù ở đâu thì con người đều là các sinh vật bậc cao biết tư duy, các thực thể sống, tức có tình cảm và cảm xúc. Ngay cả ở phương Tây, một số dân tộc cũng không đề cao lý tính như vùng nam Mỹ. Ở phương Đông, một số dân tộc lại có tính duy lý, đề cao sự logic đúng sai, nghiêm túc và trách nhiệm cao như Nhật và Hàn. Còn lại, nhiều dân tộc ở Đông Nam châu Á thì thường duy tình, đề cao sự thoải mái không có ràng buộc, hay còn gọi là cảm tính, vô sư vô sách, thích thì làm mà không thích thì nghỉ. Lý và tình là hai thái cực đối chọi, như mâu và thuẫn trong cặp phạm trù mâu thuẫn.

Về lục địa Trung Hoa, đó luôn là tính vững chắc cứng nhắc của mậu thổ với các toà thành lớn. Còn Việt Nam, vì chịu ảnh hưởng của sông ngòi, ao hồ và cạnh vịnh biển nên không thể thoát ly được tính thuỷ. Nước thì luôn linh hoạt, chảy về nơi thấp, nhẹ nhàng, ôn hoà, tĩnh lặng, tinh tế nhưng dễ bị cảm xúc chi phối, dễ thay đổi và nhạy cảm quá mức.

Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên:
Rõ ràng là nước luôn bốc hơi, tạo thành mưa, ngấm vào đất rồi lại chảy vào các hồ hoặc chảy ra biển. Tính lưu động và linh hoạt cố hữu khiến nó luôn di chuyển chứ không thích bị khống chế như cảnh ao tù. Thông thường, nước chảy thành dòng từ tây sang đông như cách “chúng thuỷ triều đông”. Nhưng địa hình Việt Nam lại là trục bắc nam kéo dài và eo hẹp ở giữa, các con sông rất ngắn và dốc, nên người Việt phải chăng đi Đông (Nhật - Đài Loan) và đi Tây (Âu-Mỹ) rất nhiều. Trong đời sống, tính linh động là một khái niệm xuất hiện rất nhiều lần, chứ không có sự chính xác đúng sai tuyệt đối. Người Việt luôn là vừa làm vừa chơi, làm và nghỉ ngơi xen kẽ chứ không thích quy mô công nghiệp với lịch trình cố định, để bằng mọi giá phải đạt được một mục tiêu nào đó. Sự cứng nhắc, rõ ràng luôn là một khái niệm xa lạ với chúng ta.

Thuỷ chính là sự linh hoạt, tuỳ cơ ứng biến, như tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”, là hình tượng cha Lạc Long Quân (Long Vương) đem con xuống biển, hay Mẫu Đệ Tam Thoải phủ cai quản miền sông nước. Và câu nói nhận định nổi tiếng của Nguyễn Trãi khi xưa:
“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”
Chính là một bài học muôn đời đối với hậu thế, để nhắc nhở về tính chất đặc thù của người Việt sau quá trình dài chiêm nghiệm. Đó cũng là cội nguồn của tư tưởng “lấy dân làm gốc” mà các vị Vua phương Đông khi xưa, cũng như Hồ chủ tịch đã từng lấy làm phương châm hành động cho tới tận ngày nay.

Trong Vu Cong
Tháng 4 – 2026

Nguồn chính:
* Lịch sử thế giới cổ đại, mục Trung Quốc – NXB Giáo dục
* Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim – NXB Kim Đồng 2017
* Đại Việt Sử Ký toàn thư – NXB KHXH 2004
* Confucianism – a very short introduction, Oxford University Press 2014 (“Dẫn luận ngắn về Nho giáo”, Daniel K. Gardner, bản Việt dịch của NXB Hồng Đức 2016)

Address

S5
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Strategos Publishing posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category