The Democratic Republic of Fecilitatem

The Democratic Republic of Fecilitatem Chúng tôi là Cơ Quan Ngôn Luận của Quốc Gia Ảo Fecilitatem. Nơi này có các chủ đề Văn Hoá - Lịch Sử.

Người Thái đã đánh mất nền dân chủ của mình như thế nào? Điều trớ trêu nằm ở chỗ: chính họ lại không nhận ra sự thật ấy....
11/12/2025

Người Thái đã đánh mất nền dân chủ của mình như thế nào? Điều trớ trêu nằm ở chỗ: chính họ lại không nhận ra sự thật ấy. Từ Bangkok cho đến Chiang Mai, người Thái vẫn tự hào rằng đất nước mình có “nền dân chủ kiểu phương Tây”, hơn hẳn Myanmar loạn lạc, chia rẽ, Campuchia độc đoán dưới “chế độ Hun Sen”, hay Việt–Lào–Trung cộng sản. Nhưng với con mắt của người ngoài, những kẻ đứng cách xa đủ lâu để nhìn rõ bức tranh toàn cảnh, nền dân chủ Thái hoặc không còn, hoặc vốn dĩ chưa bao giờ tồn tại như người Thái tưởng tượng. Họ chỉ đang sống trong một ảo ảnh dài gần một thế kỷ.

Mọi ảo giác đều bắt đầu từ năm 1932. Đảng Nhân dân Thái Lan, cái tên nghe đầy màu sắc nhân dân, nhưng thực chất được dựng lên bởi chính những tầng lớp cai trị – quân đội, quan lại, tư sản và trí thức cấp tiến – đã tiến hành cuộc Cách mạng 1932 và dựng nên thể chế quân chủ lập hiến theo mô hình phương Tây. Sự kiện ấy thổi vào xã hội Xiêm một ảo vọng mới, rằng người dân nay đã có quyền thay đổi lãnh đạo. Nhưng trong thực tế, đó chỉ là sự chuyển giao quyền lực từ nhà vua chuyên chế sang một nhóm người khác cũng chuyên chế không kém. Khi phong trào được xây dựng từ chính tầng lớp vốn không bao giờ chịu chia sẻ quyền lực, thì thất bại chỉ là vấn đề thời gian. Pridi và Phibun, hai nhân vật trụ cột của Khana Ratsadon, chỉ vài năm đã quay súng chĩa vào nhau. Phibun thắng cuộc, và nền dân chủ Thái chết yểu lần thứ nhất.

Thế nhưng ý chí của người Thái không tắt ngay lập tức. Họ thể hiện sự phản kháng trong các cuộc bầu cử mà ai cũng biết trước kết quả, họ từng phản Phibun mà kháng Nhật, chống chính quyền Phibun, và cuối cùng buộc Phibun phải trốn sang Nhật năm 1957. Nhưng trước khi vứt kiếm trốn chạy, Phibun đã kịp xóa sạch hoặc bẻ cong toàn bộ nền văn hóa Xiêm bằng cuộc “Cách mạng Văn hóa” năm 1936, biến cả xã hội thành bản sao méo mó của phương Tây. Kể từ đó, người Thái có một nền văn hóa đẹp đẽ để tự hào, nhưng lại không còn văn hóa Xiêm nguyên bản để bám vào. Câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – “Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất” – dường như soi chiếu thẳng vào số phận của Thái Lan, nơi dân tộc bắt đầu đánh mất chính mình mà không hay biết.

Sự tự ti dân tộc, xuất phát từ nỗi nhục bị quân đội và giới cai trị tước mất bản sắc, trở thành thứ vũ khí mà nhà nước Thái sử dụng để duy trì quyền lực. Một mặt, họ run rẩy trước các phong trào độc lập của Lào, Campuchia – những xứ mà người Thái quen miệt thị là “man di yếu kém” lại đang giành chủ quyền bằng chính sức dân. Mặt khác, họ dựa dẫm vào Mỹ, tin vào “học thuyết domino”, và bắt đầu tham gia can thiệp, dung dưỡng đủ loại lực lượng phản động từ Myanmar, Lào, Campuchia cho đến Việt Nam. Đó là lúc nỗi sợ xã hội chủ nghĩa đã hòa vào đường dây quyền lực, để quân đội Thái củng cố vai trò “người bảo vệ quốc gia” của mình. Và khi quân đội tiến hành cuộc chính biến năm 1957, lật luôn người hùng Phibun, người Thái không thấy đó là vòng lặp bất tận. Họ xem đó là “thiên ý”, dẫu “thiên” ở đây chỉ là nhà vua đứng phía sau quân đội. Lại nói, từ thời kỳ đó, Quốc vương Bhumibol và Hoàng gia Thái, những người bị tước quyền năm 1936, nay lại được giới tướng lĩnh tôn lên như bậc trọng tài tối cao của chính trường Thái Lan. Nói cách khác, mối quan hệ giữa Quân đội và Hoàng gia lúc này đã trở thành mối quan hệ cộng sinh, đồng bộ hóa quyền lực, biến nền dân chủ của người Thái rơi vào thế một cổ hai tròng.

Từ mốc 1957 trở đi, mọi thứ gần như được an bài: quân đội không chỉ thao túng chính trường, mà còn can thiệp vào trái tim và lý trí của người dân. Nhưng dù vậy, lịch sử Thái Lan vẫn có một vài khoảng sáng le lói. Khi Thái quyết định làm đồng minh chiến lược của Mỹ, giới cai trị không ngờ rằng chính ảnh hưởng Mỹ lại kích hoạt sự phản kháng của giới trẻ. Phong trào sinh viên 1973 là nỗ lực đáng chú ý nhất nhằm phá bỏ vòng kim cô của quân đội. Trong hai năm ngắn ngủi, Thái Lan dường như đã chạm tay vào dân chủ thật sự. Nhưng khi ba nước Đông Dương về tay các chính đảng cộng sản năm 1975, “nguy cơ cộng sản” trở thành cái cớ lý tưởng để giới quân phiệt trở lại nắm quyền. Năm 1976, vụ thảm sát sinh viên tại Đại học Thammasat đánh dấu một cái chết yểu nữa của dân chủ – lần này nhân danh “bảo vệ đất nước khỏi Việt Nam”, dù cái cách bảo vệ ấy là dung dưỡng Pol Pot, Vàng Pao và mặc kệ dân biên giới sống trong chiến sự.

Sau khi đã đủ khôn ngoan để biết mình không thể cai trị mãi bằng xe tăng, quân đội Thái sáng tạo ra mô hình “dân chủ cho vay”: người dân có quyền bầu lãnh đạo, nhưng quân đội có quyền phá nếu không vừa ý. Mô hình ấy là bản lề của mọi chính biến từ năm 1991, 2006 đến 2014. Thế nhưng, phải đến giai đoạn gần đây, mô hình đó mới thực sự sụp đổ để nhường chỗ cho một thứ còn đáng ngại hơn: sự tự nguyện trao quyền của nhân dân.

Khi Thủ tướng Paetongtarn bị sự cố “cuộc gọi ngoại giao” liên quan đến Campuchia, mọi thứ đã vượt khỏi ngưỡng quay lại. Một sự kiện mà ngay cả trẻ con cũng biết là trò phá rối chính trị buồn cười, ấy vậy mà người Thái vẫn lao vào cái bẫy. Quân đội vừa tỏ ra “hợp tác” với chính quyền dân sự, vừa nhẹ nhàng loại bà Paetongtarn khỏi cuộc chơi. Họ châm vào nỗi tự ti văn hóa của người Thái, khơi lại các tranh chấp với Campuchia, và hợp thức hóa việc tiến hành chiến tranh. Để rồi khi người dân đồng loạt ủng hộ “dạy cho Campuchia một bài học”, quân đội đã trở thành “anh hùng dân tộc”. Họ chỉ cần một cuộc chiến, một chiến thắng tượng trưng, để xóa sạch hình ảnh “kẻ phá hoại dân chủ” mà khoác lên mình áo choàng “người giải phóng quốc gia”.

Từ ấy, quân đội không cần đảo chính nữa. Người Thái tự nguyện dâng chính quyền của họ cho quân đội, giống như bậc cha mẹ tự đưa con vào tay sói vì tin rằng sói sẽ bảo vệ nó tốt hơn. Những người từng xuống đường ủng hộ Move Forward, từng phản đối Prayut Chan-o-cha, từng gọi đòi dân chủ, nay lại đồng lòng đứng sau xe tăng khi nó lăn qua biên giới Campuchia. Con tim, lý trí và tình cảm của người dân đã thuộc về quân đội. Câu nói về nước Phổ: “Không biết nơi khác ra sao, nhưng ở đây thì quân đội nắm nhà nước”, dường như đang trở thành bản mô tả hoàn hảo cho Thái Lan.

Thế nên, chẳng cần phải than khóc cho nền dân chủ Thái Lan làm gì. Nó đã chết từ lâu, và mỗi cái chết chỉ là một lần chuyển hóa để phục vụ quyền lực. Giống như những đứa trẻ chết yểu thời trung đại, khi nền y học chưa phát triển, cái tên của nền dân chủ này còn không rõ, huống gì một nấm mộ. Nền dân chủ ấy chưa hề được sinh ra trong lòng người Thái; nó chỉ là đứa con bị quân đội “cho vay”, và rồi bị tước lại ngay khi người dân vừa kịp nhìn thấy ánh sáng.

Hỏi thật không điêu: Mấy ní đã quen với xã/phường mới chưa?
19/11/2025

Hỏi thật không điêu: Mấy ní đã quen với xã/phường mới chưa?

Ở thời đại kỹ thuật số này, các Táo đã tân tiến hơn cái thời cưỡi cá chép lượn lờ như cảnh hội làng ngày Tết. Chả cần đỏ...
16/11/2025

Ở thời đại kỹ thuật số này, các Táo đã tân tiến hơn cái thời cưỡi cá chép lượn lờ như cảnh hội làng ngày Tết. Chả cần đỏ mặt, tím tai chen chúc trên mấy con cá chép hôi tanh nữa, các vị chỉ việc bật 4G thiên đình, mở camera, bật mic, thế là chầu trời online. Thiên đình có cả cái nhóm Zalo tên “Cán bộ Thiên giới – Nội bộ (không share)” trị giá hẳn 999 thành viên, ảnh bìa là bức chụp chung đúng kiểu cơ quan: người cười người không, ông Thiên Lôi thì ngáp, chị Đẩu thì trợn mắt.

Ấy thế mà đầu tháng vừa rồi, cả nhóm Zalo đang im ắng thì bất thình lình màn hình lóe lên: “Táo Dân Sinh gọi video…”.

Mở ra thì trời đất ơi, tiếng khóc thảm thiết vang lên như livestream nạn nhân bị dụ sang Campuchia làm việc, bị chích điện ngay trên sóng. Cả nhóm tá hỏa. Chú Tào (Nam Tào ấy mà) vừa bật loa, vừa càu nhàu:
– “Chị có phải Táo Giáo dục đâu mà khóc như cha chết thế hả?”

Chị Táo Dân sinh – gọi thân mật là chị Sinh – người lúc nào cũng trông như hóa thân của chị Dậu phiên bản 4.0, khăn mỏ quạ, mặt sầu đời, mắt đỏ hoe như mới bị bắt đóng sưu hụi. Người phụ nữ mà ngồi xuống phát là nghe mùi nông dân bay ra, than khóc phát là nghĩ ngay đến đoạn chị Dậu bán chó bán con.

Chị nấc lên từng tiếng:
– “Thưa các anh, các chị… thiên tai… lũ lụt… dân chúng khổ quá… Thần lên đây để… bắt đền Thiên Lôi ạ…”

Cả nhóm im phăng phắc. Chị Đẩu nheo mắt:
– “Ơ hay, chú Lôi bao nhiêu năm nay chỉ đâu đánh đấy, ai sai chú thì chú đánh, cứ đúng quy trình. Sao lại bắt đền chú ấy?”
Nhưng chị Sinh cứ nước mắt nước mũi tèm lem, làm cả nhóm hoang mang dao động, không biết do bão hay do chị khóc mà đường truyền lag.
Nam Tào đành chuyển đơn thư lên Ngọc Hoàng.

Ngọc Hoàng nghe xong cũng nhức đầu như người đọc báo ba ngày liên tiếp chỉ thấy scandal. Ngài phán:
– “Ngươi cứ đi hỏi cậu Lôi xem cậu ấy làm ăn thế nào.”
Thế là Nam Tào phi ngay xuống phòng Thiên Lôi.

Phòng Thiên Lôi giờ không khác gì phòng của một sinh viên Bách Khoa đang mùa thi:
– Lon nước tăng lực lăn lóc.
– Vỏ mì gói như bãi rác công cộng.
– Mắt cận dày như đáy chai nước mắm.
– Quầng thâm đen sì như gấu trúc.
– Điện thoại, tai nghe, dây dợ chằng chịt như phòng thử nghiệm.
Thiên Lôi mở cửa với bộ dạng của người vừa trải qua 72 tiếng code deadline:
– “Có gì nói luôn đi. Đang bận.”
Nam Tào nhìn quanh, suýt nữa tưởng mình đi nhầm vào phòng cụ Trần Đại Nghĩa đang nghiên cứu vũ khí.
Ông Tào kể chuyện chị Sinh bắt đền. Thiên Lôi cười khẩy, mắt không rời màn hình:
– “Ơ hay, nếu không sinh bão, sinh lũ, không phá vỡ ổn định khí quyển, thì còn chết nữa. Lũ phát sớm còn đỡ, để dồn lại một cục thì nổ khí hậu ngay!”
Nói xong chú ấy lại tiếp tục cầm cái bảng điều khiển khí hậu mà bấm lia lịa như gamer tryhard.
Nam Tào thở dài. Lý lẽ thì ai cũng có lý. Nhưng để chị Sinh gặp chú Lôi trong bộ dạng này thì chỉ làm to chuyện, như đưa dân oan gặp chủ đầu tư đang say xỉn.
Ông đành lên báo lại cho Ngọc Hoàng.

Ngọc Hoàng nghe mà thở dài như đã quen lắm với việc “ai cũng làm đúng quy trình, chỉ dân là sai”. Ngài triệu tập toàn bộ các Táo lên họp.
Táo Điện lực đứng lên trước:
– “Muôn tâu, do vỡ đập thủy điện ạ.”
Táo Giao thông nói ngay sau:
– “Không phải tại tôi, mà do đường bị ách tắc, hàng cứu trợ không vào được.”
Táo Lâm nghiệp bực dọc:
– “Dân phá rừng như phá hoại đời nhau, cháy lan cả ngàn héc-ta, tôi giữ sao nổi?”
Táo Môi trường tóc xanh, quạt tay:
– “Dân không chịu phân loại rác, không chịu trồng cây, sao mà sạch?”
Táo Kinh tế thì bật micro rồi nói tỉnh queo:
– “Tôi chưa bắt đền mấy ông thì thôi. Mất mùa là tôi thiệt trước.”
Quay vòng một hồi, rốt cuộc quả bóng trách nhiệm lại bay về chân chị Sinh. Ngọc Hoàng gọi chị vào.
Ngài nói giọng hiền từ mà sắc như dao:
– “Việc của các Táo, ta sẽ xử. Nhưng ngươi cũng phải nghĩ: tiên trách kỷ, hậu trách nhân.”
Chị Sinh cúi đầu, lí nhí:
– “Muôn tâu… oan cho thần lắm. Người gây hại thì chẳng sao, chỉ có dân đen là mất mát… xin Ngọc Hoàng thương lấy!”
Ngọc Hoàng nhìn chị một lúc, vẻ thương xót. Ngài cho chị nghỉ vài hôm.
Rồi tối đó, trong nhóm Zalo thiên đình, một tin nhắn bật lên:
“ – Họp khẩn về thiên tai. Vào ngay.”

Phiên họp ấy, mà nói chân thật, gọi là hài kịch đặc sắc thì đúng hơn. Các Táo đá bóng trách nhiệm cho nhau như lũ học trò đá bóng dưới sân trường:
– “Không phải tôi!”
– “Do bên kia!”
– “Tại thời tiết!”
– “Tại dân!”
– “Tại số liệu!”
Có ông còn đá thẳng trách nhiệm vào mặt Nam Tào:
– “Dự báo sai hết, đổ lỗi cho ai?”
Chị Đẩu phải vung tay chém gió mới giữ nổi trật tự:
– “Thôi cái điệu, các ông bà nói như đúng rồi đấy!”
Thậm chí có Táo còn vô tình sút bóng trách nhiệm vào… chính Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng đỏ mặt, đập bàn một cái:
– “Ta giao chức cho các ngươi để làm gì? Đến khi có việc thì đổ lỗi như cái chợ vỡ!”
Cả phòng im thin thít.
Ngài phán quyết:
– “Tất cả đều có trách nhiệm. Bây giờ lập kế hoạch giúp dân, ngay và luôn.”

Nhưng đời mà, chỉ có mỗi Ngọc Hoàng, Nam Tào và Bắc Đẩu nghiêm túc họp hành. Các Táo nhận chỉ đạo rồi… mute nhóm, seen không rep, tài liệu thì quẳng xó như cái tờ báo Thiên Đình bị đem ra lót chuột.
Cuối buổi, Nam Tào chỉ biết ngửa cổ than:
– “Các Táo đúng là người của Thiên đình… bàn việc thì bàn ở trên trời, trách nhiệm thì để dân hứng hết.”

no cap
04/10/2025

no cap

làm tí meme cho đời ấm no
20/09/2025

làm tí meme cho đời ấm no

Ở đời, mỗi kẻ làm trò hề đều phải có khán giả. Và trò hề “chống khủng bố toàn cầu” của siêu anh hùng Bush không phải là ...
11/09/2025

Ở đời, mỗi kẻ làm trò hề đều phải có khán giả. Và trò hề “chống khủng bố toàn cầu” của siêu anh hùng Bush không phải là ngoại lệ. Nếu ở chợ Đồng Xuân có những tay kịch sĩ mạt hạng rao hàng giả làm hàng thật, thì ở Liên Hiệp Quốc có cả một đoàn hợp xướng quốc tế, vỗ tay khen Bush đến rát cả lòng bàn tay. Từ ông Tony răng thỏ ở bên Anh, cho đến mấy ông lãnh đạo hậu Xô Viết nhỏ bé ở Đông Âu, ai ai cũng muốn được làm bạn diễn, miễn là sau màn kịch được chia cho vài miếng bánh gọi là “dự án tái thiết”. Người Mỹ bỏ bom, còn thiên hạ bỏ tiền đi xây lại; có khác nào gã côn đồ đập vỡ cái bình quý nhà hàng xóm rồi cho vay tiền mua bình mới?

Nhưng nói gì thì nói, chí ít trò hề của Bush còn có sức hấp dẫn riêng, vì nó không chỉ diễn ra trên xứ người, mà còn được dàn dựng bằng Hollywood: nào là lá cờ Mỹ tung bay trên đống gạch vụn, nào là anh lính GI cõng em bé da ngăm giữa bãi mìn. Khán giả trong nước xem mà rơi lệ, ngỡ Tổng thống nhà mình thật hóa siêu anh hùng. Cái hay của Bush là làm dân Mỹ quên rằng siêu anh hùng này lúc trẻ thì trốn quân dịch, cả đời chưa bao giờ xách súng ra chiến trường, chỉ quen xách gậy đánh golf và xách miệng đi nói nhăng cuội.

Người ta kể rằng ở một làng quê Texas, các bà giáo mầm non đã có sáng kiến mới: thay vì kể chuyện Cô bé quàng khăn đỏ hay Ba chú heo con, thì kể chuyện ngài Bush bay qua núi non Trung Đông, giáng đòn sấm sét xuống bọn “ác quỷ Hồi giáo”. Trẻ con nghe xong vỗ tay rào rào, rồi thi nhau mặc áo choàng, đội mũ cao bồi, hô to: “We are superheroes!” Chúng nào biết rằng trò chơi ấy chính là phiên bản bỏ túi của cuộc đời người lớn: biến cả thế giới thành sân khấu để tập làm siêu nhân, còn hậu quả thì để lại cho thiên hạ gánh.

Cái kết của truyện siêu anh hùng Bush thì ai cũng rõ: Afghanistan trở lại với Taliban, Iraq tan nát hơn cả thời Saddam, Syria thì thành cái chợ của đủ loại cường quốc chém giết lẫn nhau bằng xác người Syria - tuyệt tác mà Nixon có muốn cũng không làm được ở Việt Nam. Thế nhưng, trong mắt các bà giáo ở Texas, Bush mãi mãi vẫn là siêu anh hùng đầu tiên làm Tổng thống Mỹ. Và đám trẻ con kia, lớn lên, lại tiếp tục nối gót thần tượng, chuẩn bị thành những siêu anh hùng thế hệ mới, đi “giải cứu thế giới” bằng bom đạn.

Ấy chính là bi kịch của một dân tộc tưởng mình đóng vai chính trong vở kịch công lý, nhưng hóa ra chỉ là một gánh xiếc lưu động, đi đâu thì để lại gạch vụn, máu tươi và... một bài học đạo đức dành cho trẻ mẫu giáo.

Tháng Chín về, Hà Nội đổ cơn mưa ngâu rả rích. Giữa cái không khí ảm đạm, nặng trĩu ấy, con người ta lại càng cảm thấy l...
02/09/2025

Tháng Chín về, Hà Nội đổ cơn mưa ngâu rả rích. Giữa cái không khí ảm đạm, nặng trĩu ấy, con người ta lại càng cảm thấy lồng ngực mình siết chặt. Ngày Quốc khánh đang đến gần, nhưng không ai có thể cảm nhận được chút niềm vui, bởi sự lo lắng đã bao trùm lên tất cả.

14 giờ ngày 1 tháng 9 năm 1969. Phòng bệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm im lìm trong sự tĩnh lặng đáng sợ. Mỗi giây phút trôi qua, người dân miền Bắc, và cả đồng bào miền Nam, đều nín thở theo dõi tin tức về tình hình sức khỏe của Bác. Cả dân tộc đang mong chờ một phép màu, nhưng các bác sĩ, những người đang ngày đêm túc trực bên giường bệnh, lại âm thầm chuẩn bị cho điều xấu nhất.

Các y bác sĩ Việt Nam và nước ngoài luân phiên nhau ra vào phòng bệnh, trên khuôn mặt ai cũng lộ rõ sự lo âu. Mỗi lần họ bước ra, lại có người dân ân cần hỏi: "Bác sao rồi, chú?". Nghe những câu hỏi đó, họ chỉ biết nghẹn lại, không thể nói được lời nào để trấn an. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, với ánh mắt đầy hy vọng nhưng cũng tràn ngập nỗi buồn, hỏi các bác sĩ: "Liệu Bác có qua khỏi lần này không?". Họ chỉ dám khẽ nói: "Thủ tướng nên chuẩn bị tâm lý…". Nói ra lời đó, ai cũng cảm thấy lòng mình thắt lại. Chỉ vài giờ nữa là đến ngày Quốc khánh, vậy mà giờ đây, mọi người lại phải đối diện với nỗi đau quá lớn này.

Trên giường bệnh, Bác mệt lắm. Những gian truân của hơn nửa thế kỷ đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc dường như đang hiện rõ trên gương mặt gầy gò của Người. Nhưng Bác không chịu đầu hàng số phận. Trong Bác, ngọn lửa yêu nước vẫn cháy mạnh mẽ. Bác muốn chiến thắng tử thần để có thể thấy đất nước hoàn toàn thống nhất. Dù cơ thể gần như đã cạn kiệt năng lượng, Bác vẫn cố gắng tỏ ra tỉnh táo và nhanh nhẹn.

Trong một khoảnh khắc hiếm hoi lấy lại được chút sức lực, Bác gọi đồng chí lái xe đến bên giường, khẽ khàng nói: "Chú chở Bác đi dạo một vòng quanh Hà Nội nhé!". Nghe vậy, các đồng chí lãnh đạo và y bác sĩ đều hết sức can ngăn, nhưng thâm tâm họ hiểu rằng những giây phút này của Bác là vô cùng quý giá. Tốt hơn hết, hãy để Bác được thư thái trong những ngày cuối cùng của mình.

Chuyến xe lăn bánh, chậm rãi lướt qua những con phố thân thuộc. Anh lái xe cố tình chọn những tuyến đường vắng, tránh xa những nơi đông đúc, tránh những ánh mắt lo lắng, những câu hỏi nghẹn ngào của người dân. Anh chỉ muốn Bác được nhìn thấy những khung cảnh tươi đẹp của Hà Nội: Hồ Gươm, Cột cờ, Ba Đình… Bác nằm trên xe, thỉnh thoảng lại cố ngó ra cửa sổ, lặng lẽ ngắm nhìn thành phố.

Thực ra, Bác cũng hiểu. Ánh mắt Bác không còn thấy được sự tưng bừng, rộn rã của những cái Tết Độc lập trước đây. Dù anh lái xe đã cố gắng, nhưng không khí nặng nề, u ám vẫn lẩn khuất đâu đó. Về lại giường bệnh, Bác nhẹ nhàng nói với những người xung quanh: "Cái Tết Độc lập năm nay vắng lặng quá!". Không ai trong căn phòng ấy dám nói thêm lời nào, bởi ai cũng hiểu chuyến đi dạo cuối cùng ấy của Bác mang trong mình một nỗi niềm trĩu nặng.

Những ngày cuối tháng Tám năm ấy, cái gọi là “khí thế cách mệnh” lan khắp nước An Nam, thì cũng là lúc ông de Gaulle bên...
27/08/2025

Những ngày cuối tháng Tám năm ấy, cái gọi là “khí thế cách mệnh” lan khắp nước An Nam, thì cũng là lúc ông de Gaulle bên Tây, chưa kịp vá cái áo rách tổ quốc Pháp bị bom Mỹ và Đức cày nát, đã vội vã xắn tay áo đi làm cái việc ông cho là hệ trọng hơn cả: chiếm lại thuộc địa. Người Pháp, vốn có cái tật lạ đời là coi Đông Dương còn quý hơn Paris, cho nên dù trong nước nát bét, vẫn cố bấu víu lấy Sài Gòn – hòn ngọc Viễn Đông, nơi mà dù anh họa sĩ người Áo có đội mồ sống dậy, chắc gì đã thiếu kẻ bắt tay.

Từ hôm hăm hai, khi bọn phi cơ Anh thả dù xuống Tây Ninh cả đống nhân viên quân sự, bắt Việt Minh “hợp tác” với cái chính phủ de Gaulle vẽ ra; rồi hôm hăm lăm, ở Huế, vài chú lính Tây như thiên thần giáng thế, nhảy dù xuống để “trị an” hộ Bảo Đại, nhưng lại bị chính dân An Nam tóm gọn, thì bên Paris, mấy ông quan lớn lật bàn, chửi đổng, cho rằng cái lũ da vàng đã dám tuyên chiến với nền văn minh khai hóa vậy.

Đến ngày hăm bảy, Sài Gòn đỏ rực cờ sao vàng. Ngay buổi chiều, một ông đại tá Pháp, tên Jean Cédille – cái tên mà ngay cả Wikipedia bên Pháp cũng không thèm để cái ảnh nghiêm chỉnh – bỗng dưng xuất hiện, ngênh ngang đòi gặp ông Trần Văn Giàu. Ông Jean thò ra cái “dự án” vĩ đại: lập một thứ “nhà nước Việt Nam tự trị trong Liên hiệp Pháp”, một sản phẩm lai căng, nghe tên đã thấy nó giống như con quái vật có hai đầu. Ông Giàu nhìn mà mỉm cười, rồi thong thả đáp: “Chúng tôi chỉ thương lượng trên lập trường Việt Nam độc lập.” Câu nói ấy chẳng khác gì đuổi khéo, bởi ông Giàu biết thừa Jean chẳng bao giờ dám nhận cái trò hề ấy, mà Jean cũng biết thừa Việt Minh không đời nào chịu. Cả hai hiểu nhau, chỉ có khán giả, tức là nhân dân, là chưa biết màn kịch tiếp theo sẽ đẫm máu đến thế nào.

Rồi buổi lễ mồng hai tháng Chín ở Sài Gòn diễn ra. Khổ nỗi, cái buổi lễ long trọng mà thiếu hẳn một cái radio tử tế để truyền lời cụ Hồ từ Hà Nội. Thế là ông Giàu lên nói mấy lời nâng cao sĩ khí đồng bào, còn đồng bào, thay vì nghe tiếng cụ, đành nghe tiếng… súng. Ngay sau khi mít tinh kết thúc, ngài Jean đại tá hạ lệnh cho lính bắn vào đoàn người diễu hành. Máu chảy. Bốn mươi tám đồng bào ngã xuống, đổi lại một trăm ông Tây phải bỏ lại súng ống và lên sở cẩm ngồi uống trà đá.

Đám Trốt-kít vốn chẳng ai ưa, liền nhân cơ hội xỉa xói Việt Minh là tổ chức mít tinh mà không “đảm bảo an toàn”. Còn không quân Anh thì bay lượn như đèn cù trên trời Sài Gòn, vừa lượn vừa làm bộ làm tịch đổ tội cho Việt Minh, như kiểu không biết anh Jean đại tá là thằng nào, mà kể ra thì... cũng có thể là thật, rồi trịnh trọng hạ lệnh cho bảy tiểu đoàn Nhật – cái quân đội đã đầu hàng từ đời nào – kéo về Sài Gòn để “trị an”. Thực ra, ai chả biết đó chỉ là trò hù dọa, dằn mặt dân An Nam.

Đến ngày hăm ba tháng Chín, mặt nạ cũng như màn kịch rơi xuống. Pháp, Anh, Nhật và lũ tay sai bản xứ không thèm giả vờ nữa, đồng loạt mở màn cuộc chiến tước đoạt cái nền độc lập vừa chớm nở.

Cái dân tộc đã sống tám mươi năm trong cảnh nô lệ, đánh đổi bao xương máu để mong có được hai chữ hòa bình, rốt cục chỉ hưởng trọn vẹn… chưa đầy một tháng. Một tháng ngắn ngủi, mong manh như cái bình gốm Bát Tràng đã vỡ, được chắp vá bao lần, vừa đặt xuống bàn, đã bị kẻ khác giật phắt đi, ném xuống đất cho nát thêm.

Và thế là, từ cái lễ độc lập đầu tiên, dân tộc lại bước vào cuộc chiến dài. Độc lập ở xứ này, hóa ra, còn đắt đỏ hơn vàng.

Huế, ngày 30 tháng Tám năm 1945.Trong cung, không khí đặc quánh như một bữa tiệc rượu tàn canh: đèn vẫn treo, bàn ghế cò...
25/08/2025

Huế, ngày 30 tháng Tám năm 1945.

Trong cung, không khí đặc quánh như một bữa tiệc rượu tàn canh: đèn vẫn treo, bàn ghế còn đó, nhưng khách đã bỏ đi, chỉ còn mỗi ông chủ tiệc ngồi ôm đầu, chẳng biết dọn hay chờ thêm ai đến. Ông chủ tiệc ấy chính là Vĩnh Thụy – vị hoàng đế cuối cùng của cái triều Nguyễn đã rệu rã đến mức, nhìn lâu cũng tưởng lầm là cái con thuyền nhã nhạc chất lượng thấp dựng lên giữa sông Hương.

Bảo Đại, chính ra, cũng không phải là kẻ u mê. Y biết Việt Minh đã bủa vây thiên hạ từ lâu, biết Hà Nội, Hải Phòng đã treo cờ đỏ sao vàng, biết Nhật thì lo cuốn gói, Pháp thì như mấy tay ma cà bông bị tống khỏi nhà hàng Tây ở Hà Nội. Vậy mà trong cung đình, đám hoàng thân quốc thích vẫn hồn nhiên như trẻ con chờ phát kẹo, bàn cãi xem nên cho vua mặc áo long bào gì khi ra Ngọ Môn hóng gió… Thật tình mà nói, chỉ vài cơn gió thổi cũng đủ cuốn cả ngai vàng lẫn mấy bộ râu giả của đám quan lại ra hàng phế liệu ở chợ Đông Ba, chứ cách mạng cũng chẳng cần mạnh tay làm gì.

Phạm Khắc Hòe là kẻ hiếm hoi còn biết lo xa. Y thì thầm với Bảo Đại rằng, nếu còn chần chừ thì cả họ Nguyễn có ngày cùng số phận như nhà Romanov – tức là biến thành phô mai dưới hầm súng cách mạng. Hoàng đế nghe xong, rùng mình một cái, bèn gật gù: “Ừ, thì… thoái vị vậy. Cái ngai vàng này ta cũng chán từ lâu rồi, giữ làm gì cho mệt xác.” Nói như thằng con quan huyện cũ bỏ học về mở sòng bài, chứ chẳng phải bậc “thiên tử vạn dân”.

Thế là chốt cho một cái vở tuồng thế kỉ. Một sấp giấy đã soạn sẵn: “Trẫm xin thoái vị, nguyện làm dân của một nước độc lập…” Ngày 30, Ngọ Môn chen chúc năm chục ngàn người. Thiên hạ kéo đến chẳng phải vì yêu vua, cũng chẳng vì tiếc cái chế độ phong kiến hay cái danh dân kinh thành, mà chủ yếu là muốn xem cái trò hề thoái vị: vừa lạ, vừa vui, chẳng khác nào đi coi đá banh miễn phí. Khi Bảo Đại dõng dạc tuyên bố “Từ nay Trẫm được làm dân một nước độc lập”, đám đông vỗ tay, reo hò, như thể đội Trung Kỳ vừa thắng trận bóng với đội lính khố xanh. Vua tưởng họ khóc thương, hóa ra họ cười khoái chí.

Rồi ông quẳng cho Việt Minh cả núi ấn kiếm, bảo vật. Việt Minh nhìn nhau, biết chở thế nào cũng không xuể, đành để nguyên ở Huế. Sau này cụ Hồ còn phải dặn: “Các chú, chớ động vào nữa, để đấy mai mốt mở bảo tàng còn có cái mà khoe.”

Thoái vị xong, Vĩnh Thụy đổi áo hoàng bào lấy áo sơ-mi trắng, làm “cố vấn tối cao” cho chính phủ mới. Nhưng cái thói cũ khó chừa: vài tháng sau, trong chuyến đi Hương Cảng, Thụy sủi tăm biệt tích về Côn Minh. Người bảo ông ham chơi, kẻ bảo cụ Hồ cho phép nán lại ở Trung Quốc. Dù thế nào thì khi Pháp lôi ông về dựng làm “quốc trưởng Quốc gia Việt Nam”, thiên hạ đã rõ: Hoàng đễ chẳng qua cũng chỉ là một con bài rẻ tiền trong sòng bạc chính trị.

Đến năm 1952, khi Pháp trịnh trọng mang trả lại ấn kiếm cho quốc trưởng, Vĩnh Thụy nhìn cái bảo kiếm rỉ sét mà run như thấy ma. Cái lưỡi kiếm hoàng gia, từng tượng trưng cho quyền lực thiên triều, giờ gãy hàn chắp vá, sắc bén chẳng bằng dao chợ Bến Ngự. Người Pháp cũng đành xách về trưng bày, như món cổ ngoạn hạng bét.

Thế là kết thúc một vở kịch: triều Nguyễn hạ màn, Việt Minh mở màn. Bảo Đại – “ông vua dân - ông dân vua” đầu tiên và duy nhất của nước Việt Nam hiện đại – thì an phận hơn bao giờ hết với thú vui cũ: rượu vang, vợ đẹp, săn bắn. Ngai vàng? Ấy là thứ mà ông bỏ lại ở Huế, cùng với những tiếng cười hả hê của năm vạn người dân hôm ấy, chẳng ai thèm giữ hộ.

Hà Nội, tối ngày 19/8/45,Trời về đêm, một thứ hơi nóng hầm hập còn vương lại quanh Phố Cổ. Hà Nội hôm ấy, lần đầu tiên s...
19/08/2025

Hà Nội, tối ngày 19/8/45,

Trời về đêm, một thứ hơi nóng hầm hập còn vương lại quanh Phố Cổ. Hà Nội hôm ấy, lần đầu tiên sau mấy chục năm, như một kẻ vừa tỉnh dậy từ cơn mộng dài, như thể vừa tỉnh dậy sau một cơn ác mộng và được chào đón bằng một buổi bình minh tươi sáng. Trên những con phố quanh Hồ Gươm, những bước chân vẫn còn gấp gáp, những giọng nói vẫn còn rộn ràng, như chưa ai dám tin ngày này thực sự đã đến.

Người ta nhìn nhau, cười với nhau, tay nắm tay, mắt sáng rực như vừa nhận được thứ gì quý giá lắm. Có người thì thầm: “Vậy là Hà Nội đã về ta.” Câu nói ấy, vang lên nơi đầu ngõ, liền như sóng lan ra, khiến bao trái tim vốn đã chai sạn vì đói rét cũng bỗng run rẩy.

Không còn những tiếng hô “Nhật hoàng vạn tuế”, không còn bóng những tên lính lê dương thô bạo. Từ tháng Ba, đám chủ Tây đã biến mất như một cơn cuồng phong chết chóc đã chán quần thảo cái thành phố này. Bọn me Tây chui rúc trong những căn nhà tối tăm mờ mịt như tương lai của chúng, chỉ chờ một thế lực mới đến giải cứu chúng để tiếp tục ký sinh. Đám tư sản thì thập thò cửa sau, bàn bạc chuyện lánh đi, vì chúng biết: giờ phút nhân dân nổi lên cũng là giờ cáo chung của chúng.

Trong các ngõ xóm nghèo, nơi những mái nhà tranh xiêu vẹo, những người đói triền miên mấy tháng qua nay ngồi túm tụm, chia cho nhau bát cháo loãng còn vương chút gạo từ kho Nhật bị phá. Miệng còn run rẩy vì đói, nhưng môi họ lại cất lên những khúc hát cách mạng, giọng khàn khàn mà dõng dạc. Ánh đèn dầu leo lét hắt ra từ những khung cửa, rọi vào gương mặt hốc hác mà chan chứa khát vọng.

Một ông cụ tóc bạc đứng chống gậy giữa ngã tư Hàng Đào, nhìn đám thanh niên vừa trở về sau cuộc diễu hành. Cụ nói nhỏ, mà như nói với cả thành phố:
— Thế là, sau mấy mươi năm làm thân trâu ngựa, hôm nay chúng ta đã làm chủ trên mảnh đất quê hương chúng ta…

Lời cụ lẫn trong tiếng hô “Việt Nam độc lập muôn năm!”, hòa cùng tiếng trống, tiếng chiêng vang lên từ đâu đó, rộn rã như khúc nhạc mừng sự tái sinh của một dân tộc.

Hà Nội vẫn còn ngổn ngang rác rưởi, xác xe, cờ Nhật rách nát vứt ven đường. Nhưng trong cái hỗn độn ấy, một sức sống bùng lên, dữ dội và chân thật. Hà Nội sẽ không còn run rẩy dưới gót giày ngoại bang nữa. Từ đây, vui buồn, sướng khổ sẽ là do chính người Hà Nội, do chính dân tộc này quyết định – không phải Paris, không phải Tokyo, càng không phải kinh thành Huế mục nát.

Đêm 19 tháng 8, Hà Nội lần đầu tiên hít một hơi thật sâu cái không khí của độc lập tự do. Và tiếng thở ấy, dẫu khàn đặc vì đói, vẫn là tiếng thở dài của một dân tộc vừa bước ra khỏi bóng tối nô lệ, chuẩn bị đi vào buổi bình minh của chính mình.

Đêm 18 tháng 8 năm 1945, đồn lính Nhật ở Hà Nội chẳng còn cái dáng vẻ kiêu hùng mà người ta vẫn tưởng tượng về “quân đội...
18/08/2025

Đêm 18 tháng 8 năm 1945, đồn lính Nhật ở Hà Nội chẳng còn cái dáng vẻ kiêu hùng mà người ta vẫn tưởng tượng về “quân đội Thiên Hoàng”. Trời oi bức, ve sầu kêu ran, mà trong sân chỉ còn vài ngọn đèn dầu leo lét, hắt ánh sáng vàng đục lên những tấm tôn lụp xụp.

Đã ba ngày kể từ khi đài phát thanh từ Tokyo phát đi cái giọng run run của Nhật hoàng khi tuyên bố đầu hàng. Những kẻ còn ở lại Hà Nội nghe tin ấy, mặt kẻ nào cũng biến sắc. Cũng chưa đầy hai tuần kể từ ngày Hiroshima thành đống tro tàn, mới vài ngày kể từ khi Nagasaki biến mất sau ánh chớp trắng. Và mới chỉ vài tháng trước, đám sĩ quan từng hồ hởi đọc lệnh tổng động viên để giữ Okinawa, bắt lính quèn ở Bắc Kỳ hô hào khắp các làng rằng Đế quốc vẫn trường tồn. Giờ thì, chẳng còn gì ngoài khói thuốc lào quẩn quanh, tiếng ho sặc sụa và nỗi tuyệt vọng rỉ máu từ trong bụng mỗi người.

Trong doanh trại, gạo chất đống, toàn là thứ đã cưỡng chế của dân. Đám lính thừa biết, dân Hà Nội vẫn đang vật vờ ngoài kia, nhưng chính chúng nó nhận ra, nghĩ mẩm mình cũng chẳng khá hơn là mấy, nên cũng chẳng còn tâm trí mà nghĩ sâu xa làm gì. Vài sĩ quan say rượu gào lên hô hào anh em “hãy mổ bụng giữ lấy khí tiết võ sĩ”. Nhưng rồi sáng hôm sau, người ta chỉ thấy ông ta lăn quay trên chiếu, ruột phèo bày ra, còn đám lính thì lạnh lùng bỏ đi — chẳng ai muốn nối gót. Đế quốc chết rồi, giữ khí tiết để làm gì?

Tin tức từ bên ngoài len lỏi vào: Việt Minh huy động quần chúng ở Nhà hát Lớn, Thái Nguyên đã bị chiếm, cờ đỏ búa liềm phấp phới. Từ phương Bắc, quân Tưởng lục tục kéo xuống, vừa hăm hở vừa hằn học, cứ như cái đất Bắc Kỳ này mới chính là chiến lợi phẩm của họ. Lính Nhật thì thì thầm với nhau: chạy xuống Nam đi, lọt vào tay bọn Ăng-lê thì may ra còn đường về quê, chứ rơi vào tay Tưởng thì chỉ có chết.

Cái gọi là “Đế quốc Việt Nam” thì từ lâu đã chỉ còn là tấm bình phong rách nát. Trần Trọng Kim biến mất chẳng ai biết ở đâu, Bảo Đại thì nghe đâu đã kịp ngả theo Việt Minh để giữ chỗ chạy sang Pháp. Những tay “thần tử Đại Đông Á” còn sót lại chỉ vênh váo được trong mấy cuộc rượu. Đám quan chức quèn ở Bắc Bộ phủ thì vỗ vai đám lính Nhật và bảo nhẹ: “chúng mày toi rồi”.

Trong đồn, vài cậu lính trẻ mê sảng, suốt ngày lẩm bẩm tên người nhà ở Tokyo, Hiroshima, Nagasaki. Vài cậu khác lặng lẽ ôm mặt mà khóc, nhớ lại mẹ già, vợ trẻ chắc chẳng còn xác mà chôn. Một cậu tò mò cầm katana của thủ trưởng, sáng hôm sau đã thấy xác cậu treo lủng lẳng trong lán. Những người còn lại, thôi thì cắm cúi uống rượu, cắm cúi chờ ngày mai. Nếu tháng trước họ còn mơ tưởng sau chiến tranh sẽ về nước mở tiệm gốm, nuôi gà, dạy học… thì giờ, tất cả những gì họ cầu nguyện chỉ là: sống sót qua ngày.

Và rồi, sáng 19 tháng 8. Cả đồn tỉnh dậy trong thứ ánh sáng khác lạ. Ngoài kia, Bắc Bộ phủ rực rỡ cờ đỏ, người người chen vai nhau, hô vang tên “Hồ Chí Minh”. Họ bàng hoàng nhận ra mình vẫn còn bình an vô sự.

Kẻ vui vẻ thở phào, cho rằng thế là qua kiếp nạn. Kẻ thì tức tối bỏ chạy vào Nam, mong hội quân, mong “trả thù cho Nhật Hoàng” mà thực chất chỉ là tìm đường sống bằng cách liếm gót người Anh. Lại có những kẻ khác, dở khóc dở cười, bập bẹ thứ tiếng Việt bồi học được bấy lâu, tới gõ cửa các ủy ban cách mạng: “Xin… xin cho… tôi làm… cho cụ Hồ…”

Một đế quốc sụp đổ, những thân phận lạc loài, và một thành phố đổi màu chỉ trong một đêm.

[CHUYỆN NHÀ NGUYỄN]NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU - TUYỆT THẾ GIAI NHÂN————————Lịch sử triều Nguyễn tự thưở Phúc Ánh phục thù nhà ...
10/08/2025

[CHUYỆN NHÀ NGUYỄN]
NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU - TUYỆT THẾ GIAI NHÂN

————————

Lịch sử triều Nguyễn tự thưở Phúc Ánh phục thù nhà Tây Sơn, đến khi Bảo Đại thoái vị và trao chính quyền về tay nhân dân Việt Nam, chỉ có hai Hoàng Hậu được phong khi còn tại thế, một là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu - Tống Thị Lan và hai là Nam Phương Hoàng Hậu - Nguyễn Hữu Thị Lan. Với chuyện của Tống thị, bà được phong Hoàng Hậu hoàn toàn xứng đáng khi đã đồng cam cộng khổ cung Gia Long trong suốt quãng đường ông ngậm đắng nuốt cay, chịu bao tủi hổ để chờ ngày phục hận nhà Tây Sơn. Thế nhưng, riêng với Nguyễn Thị thì nó lại là một câu chuyện hoàn toàn đặc biệt. Bởi, xét cho cùng, trong thời đại nhiễu nhương ấy của đất nước, khi Đại Nam đang từng bước chuyển mình theo bánh xe của lịch sử, cộng thêm một thời gian quá dài nhà Nguyễn không lập Hậu, mà bà vẫn được chọn thì có lẽ phải có những lý do sâu xa nào đó chăng?

I. NHÂN VẬT.

Nam Phương Hoàng Hậu, tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1913 (chỉ sau chồng mình là Hoàng Đế Bảo Đại vỏn vẹn 23 ngày), là ngọc nữ trong gia đình của một phú hộ giàu có bấy giờ là ông Nguyễn Hữu Hào.

Nói sơ bộ, thì bà này xuất thân trong một gia đình Công Giáo nên từ bé đã được gia đình giáo dục vô cùng tử tế. Năm 12 tuổi (tức 1925, Nguyễn Hữu Thị Lan sang Paris, Pháp học trường Couvent des Oiseaux. Thế nên, càng trưởng thành, người ta càng thấy bà sùng đạo hơn.

II. HÔN SỰ.

Năm 1933, sau khi hồi hương được một năm, dưới sự sắp đặt của Toàn Quyền Đông Dương bấy giờ là ông Pasquier, Nguyễn Hữu Thị Lan và Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ (tức Bảo Đại) đã gặp nhau tại khách sạn Langbian Palace toạ ở Đà Lạt.

Mặc dù theo nhiều nguồn cho hay, Nguyễn Hữu Thị Lan không hẳn là có tình cảm với Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ nhưng dưới sự dàn xếp của gia đình cũng như những kẻ máu mặt bấy giờ, bà vẫn đồng ý qua lại với Vĩnh Thuỵ và rồi được Hoàng Đế hỏi cưới. Bấy giờ, bà thay mặt gia đình đề nghị bốn điều sau:

1. Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Chính Cung Hoàng Hậu ngay trong ngày cưới.
2. Được giữ nguyên đạo Công giáo, và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.
3. Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.
4. Phải được Tòa Thánh cho phép đặc biệt hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau.

Và những yêu sách này hoàn toàn chạm đến tận cùng giới hạn của Hoàng Gia thời bấy giờ. Khi mà Thượng Thư Bộ Hình Tôn Thất Đàn (tương đương Bộ Trưởng Tư Pháp ngày nay) đã dự tính thay mặt bá quan văn võ triều Nguyễn gửi thỉnh nguyện thư phản đối và buộc Nguyễn Hữu Thị Lan phải cải sang đạo Phật.

Thế nhưng, chính Bảo Đại lại là người bỏ hết tất cả lời khuyên và sự phản đối từ Hoàng Tộc lẫn triều đình để lấy được Nguyễn Hữu Thị Lan làm vợ. Chính ông ta đã nói:”Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều Đình”.

Vậy là ngày 20 tháng 3 năm 1934, hôn lễ được tổ chức khi Bảo Đại và Nam Phương mới 20 tuổi hơn. Sau đó một ngày, Nguyễn Hữu Thị Lan được chính thức phong Hoàng Hậu với danh xưng là Nam Phương.

III. VIỆC NƯỚC - VIỆC NHÀ.

Mặc dù không quá nổi bật về chính trị, nhưng bà được đánh giá là một người vợ - người mẹ chuẩn mực khi đã hoàn thành vai trò của mình đối với các con và Đức Từ Cung Thái Hậu. Song, vì nhiều mâu thuẫn từ tôn giáo đến quan điểm sống mà bà không được Đức Từ Cung đối đãi đúng mực, ít nhất là dưới danh nghĩa “con dâu”. Sau này, phim Ngọn Nến Hoàng Cung đã làm rõ những mâu thuẫn này giữa bà và Đức Từ Cung. Ngoài ra, những năm sau khi Quốc Gia Việt Nam (một thể chế bù nhìn dựng lên bởi thực dân Pháp) được thành lập, Đức Từ Cung đã trao lại mũ áo và những vật dụng mang tính lễ nghi của một Hoàng Hậu cho Thứ Phi Mộng Điệp (người vợ không chính thức của Bảo Đại) để bà thực hiện những nghi lễ đối với các tiên hoàng nhà Nguyễn trong những ngày trọng đại.

Với việc nhà thì thế, nhưng việc nước cũng không kém phần xuất sắc. Nam Phương luôn xuất hiện cùng chồng trong những cuộc gặp gỡ ngoại giao khi tiếp phái đoàn của nguyên thủ các nước khác như Thống Chế Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc, Vua Sihanouk của Cao Miên,…. Thậm chí có lần đích thân Bảo Đại lái xe đến Nam Vang (Pnom Penh) cũng có sự hiện diện của Nam Phương bên cạnh.

Trái với những người công giáo quá mức sùng đạo đến mù quáng như Trần Lệ Xuân sau này, Nam Phương Hoàng Hậu lại là người rất khéo cư xử với các Phật Tử trong nước. Bà thường đi lễ chùa cùng các con trong những ngày lễ lớn của đạo Phật trong thời gian còn là Hoàng Hậu, người ta thường thấy Nam Phương đi thăm các lăng tẩm, luôn đứng thẳng người nhưng hai tay bao giờ cũng chắp lại ngang ngực với một thái độ kính cẩn. Ngoài ra, nhằm thể hiện sự tân thời, bà cũng kiên quyết đòi thực hiện các biện pháp canh tân của mình.

Thế nhưng, một câu chuyện nổi bật khác lại được kể sau khi Triều Đình Huế sụp đổ không lâu…

IV. CHUYỆN TUẦN LỄ VÀNG.

Đó là khoảng thời gian Cách Mạng vô cùng khó khăn về mọi hướng. Khi ấy, Cụ Hồ cùng Chính Phủ Lâm Thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã kêu gọi quyên góp với khẩu hiệu “một miếng khi đói bằng một gói khi no” hay các chương trình “tuần lễ Vàng” với mục tiêu duy nhất, lá lành đùm lá rách trong thời đại đầy bất ổn và lâm nguy vô tận cùng ấy.

Vào trung tuần tháng 9 năm 1945, tại Cung An Định, gia nhân thấy bà Nam Phương cổ đeo vòng vàng, hai tay mười chiếc nhẫn quý. Người ta hỏi bà đi đâu mà phải mang nhiều như thế, bà chẳng trả lời, chỉ lặng lẽ bước ra khỏi Cung và đến nơi tổ chức Tuần Lễ Vàng của Chính Phủ Việt Minh. Khi ấy, trước sự ngỡ ngàng của tất cả các cán bộ cũng như nhân dân, Nam Phương đã tháo tất cả vòng vàng và nhẫn cùng các món trang sức khác bỏ vào trong hộp quỹ của Chính Phủ. Người ta cảm kích vô tận cùng và đã mời bà làm chủ trì của chương trình Tuần Lễ Vàng cùng với một hành động vô cùng ý nghĩa của Việt Minh, các cán bộ đã gắn một huy hiệu in hình cờ đỏ sao vàng lên người bà như sự công nhận và vinh danh một công dân tiêu biểu của nước Việt Nam mới trong thời kỳ đấu tranh trước tang thương như vậy.

V. CHẤM BÚT LẦN THỨ NHẤT.

Ngoài ra, vẫn còn một số câu chuyện thú vị về Nam Phương Hoàng Hậu mà tôi sẽ kể với độc giả trong các số sau. Xin chào và hẹn gặp lại.

————————

Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2025.
-Jay-



Address

Hanoi
11000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when The Democratic Republic of Fecilitatem posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category