Thiền Thất An Ban

Thiền Thất An Ban Em không phải là tạo sinh mà chỉ là sự biểu hiện

NĂM MỚI, CƠ HỘI LÀM MỚI CHÍNH MÌNHNăm mới là một cơ hội để chúng ta làm mới chính mình, để bắt đầu lại từ đầu. Để đón ch...
30/12/2025

NĂM MỚI, CƠ HỘI LÀM MỚI CHÍNH MÌNH

Năm mới là một cơ hội để chúng ta làm mới chính mình, để bắt đầu lại từ đầu. Để đón chào năm mới, ai trong chúng ta cũng muốn có mặt trọn vẹn trong giây phút năm mới đến. Năm mới có ý nghĩa đối với tất cả mọi người, bởi vì ai cũng mong ước một năm mới khác với năm cũ, một năm tốt đẹp hơn, nhiều vững chãi, nhiều an ổn, nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc hơn. Vì vậy, ai cũng muốn tự chuẩn bị cho mình để có thể đón chào năm mới; ai cũng cố gắng làm hết sức mình để biến năm mới thành một năm tốt đẹp hơn.

Trong truyền thống Phật giáo có những pháp tu giúp chúng ta tự chuẩn bị để năm mới có thể tốt hơn năm nay. Mỗi khi nói đến năm mới, chúng ta nghĩ đến một vị Bụt có tên là Từ Thị (Maitreya) — vị Bụt của tương lai, Từ Thị có nghĩa là tình thương. Trong năm mới, chúng ta có đủ can đảm để yêu thương trở lại hay không? Bởi vì có những người trong chúng ta đã từng yêu thương và đã từng đau khổ vì thương, nên chúng ta sợ không dám yêu thương nữa.

Ta nên quay về thỉnh ý Bụt Từ Thị xem sang năm mới chúng ta có nên thương yêu trở lại hay không. Chúng ta đã từng thương yêu và có cảm giác mình đã thương yêu bằng tất cả trái tim. Nhưng tình thương ấy đã đem lại cho chúng ta nhiều khổ đau, phản bội, và những tổn thương khác. Vì vậy chúng ta ngần ngại khi nghĩ đến việc yêu thương trở lại.

Ngày cuối năm là cơ hội để chúng ta quay về nhìn lại cách mình đã yêu thương, cách mình đã sống, để xem có phải bản thân mình cũng chịu một phần trách nhiệm về nỗi khổ của chính mình và về nỗi khổ của người kia hay không. Ta thường có khuynh hướng trách móc người kia về nỗi khổ của mình và người kia cũng có khuynh hướng ấy. Vì vậy ta nên sử dụng cơ hội này để nhìn lại, để thấy rõ cách mình yêu thương, cách mình đối xử với người mình thương. Đây là cơ hội để quán chiếu sâu sắc về bản chất đích thực của tình thương. Và đó chính là một sự thực tập rất đẹp để làm mới lại tình thâm.

Cố nhiên trong năm qua chúng ta đã mắc phải những lỗi lầm. Đôi khi chúng ta không muốn làm, không muốn nói như vậy, ta không hề cố ý. Thế nhưng ta vẫn làm, vẫn nói khiến cả ta và người kia đều khổ. Về phần mình, có thể ta cũng đã có nhiều thiện chí. Nhưng chỉ có thiện chí thôi thì chưa đủ. Ta đã được học rằng thương là khả năng mang hạnh phúc đến cho người kia và giúp người kia bớt khổ. Nhưng muốn thương không có nghĩa là đã biết cách thương một cách đúng đắn. Nhiều bậc cha mẹ rất muốn thương con và làm cho con hạnh phúc, nhưng càng thương, họ càng làm con khổ. Chúng ta cũng vậy. Ta muốn mang hạnh phúc đến cho người khác, nhưng vì thiếu hiểu biết, thiếu kiên nhẫn, nên càng thương càng khiến người kia khổ. Cho nên chỉ có ước muốn thương yêu, muốn làm người kia hạnh phúc không thôi là chưa đủ.

Có một cách rất đơn giản để kiểm tra xem tình thương của mình có làm mình khổ và làm người kia khổ không. Đó là đặt câu hỏi: “Người thương ơi (người thương đây có thể là chính mình hoặc người kia), cách tôi thương có làm em khổ không?” Nếu lắng nghe một cách chân thật, ta sẽ tự tìm ra câu trả lời từ chính mình. Và khi hỏi người kia (trực tiếp hay gián tiếp), ta cũng có thể nghe được tiếng trả lời của họ. “Người thương ơi, anh có nghĩ rằng tình thương của em đã làm khổ anh không?”. Hỏi xong, ta thở vào, thở ra và lắng nghe thật kỹ, câu trả lời sẽ đến. “Người thương ơi, có phải cách em thương làm khổ chị không?”. Nếu ta hỏi rất thật lòng, bằng tất cả trái tim, sự thành khẩn và tha thiết thì người kia sẽ nói cho ta biết.

Chắc là ta cần hỏi câu hỏi ấy một cách thường xuyên bởi vì ngày nào ta cũng có thể gây ra lầm lỗi mà ta không biết. Ta tin rằng cách ta làm, ta nói là với thiện ý làm cho người kia hạnh phúc. Nhưng ta không thể quá chắc chắn về điều đó bởi vì tri giác của ta thường hay sai lầm. Thậm chí khi ta có đầy hảo ý, ta vẫn nhầm lẫn như thường. Ta vẫn không hiểu rõ người ta thương, vì vậy ta vô tình gây đau khổ. Khi nói, ta phải sử dụng ngôn từ. Và ngôn từ ta sử dụng có thể làm tổn thương người khác. Cách ta hành xử hay phản ứng có thể làm đau chính ta hay đau người khác. Rất nhiều người trong chúng ta, khi gây ra lầm lỗi lại muốn trừng phạt chính mình với hy vọng làm mình bớt khổ. Nhưng đó là một sai lầm, bởi làm như vậy, ta làm khổ chính mình mà cũng làm khổ người khác.

Ta không cố ý gây ra lầm lỗi hay gây ra tổn hại. Chỉ vì ta không biết sống sao cho có chánh niệm nên ta mới lập đi lập lại những lầm lỗi ấy trong đời sống hàng ngày. Cho nên ta cần tập sống chánh niệm mỗi phút giây trong đời sống để biết điều gì đang xảy ra trong hiện tại, dù ta có gây ra lầm lỗi hay không. Chánh niệm chính là đức Bụt mà ta có thể mời có mặt với ta suốt 24 tiếng một ngày.

Như vua Trần Thái Tông từng nói: “Nhà Bụt mời cầu không ở lại, đêm đêm thói cũ ngủ bờ lau.” , ta đã quen sống thất niệm, ta không muốn mời Bụt làm người tri kỷ giúp ta sống chánh niệm mỗi giây mỗi phút trong cuộc sống hàng ngày. Khi chánh niệm có mặt, ta sẽ biết mình đã không đủ khéo léo, đã nói năng không có từ bi, đã hành xử không dựa trên sự thương yêu. Nhận ra rồi, ta có thể nói với người kia: “Xin tha lỗi cho tôi, tôi đã không đủ khéo léo, tôi không cố ý làm cho bạn tổn thương.” Và tình trạng có thể thay đổi ngay lập tức.

Khi có ai đó làm tôi khổ vì họ không khéo léo, tôi cũng nhìn để thấy: “Ồ, người này đã hành xử không khéo léo lắm.” Vì vậy tôi hay dặn đệ tử của mình cố gắng nhớ điều này: Khi có ai làm họ khổ thì đừng nên nhìn sự việc dưới góc cạnh thiện hay ác, thiện ý hay ác ý, đúng hay sai mà chỉ nên thấy là có thể người kia đã không đủ khéo léo mà thôi. Nhìn như thế, ta có thể dễ dàng tha thứ cho người kia. Nếu mình dễ tha thứ cho họ thì họ cũng dễ tha thứ cho mình bởi vì có thể mình vẫn sẽ tiếp tục gây ra lầm lỗi vì sự không khéo léo của chính mình.

Tình thương yêu đích thực gồm có bốn yếu tố là từ, bi, hỷ, xả là bốn tâm vô lượng mà ta có thể học cách để vun trồng, tưới tẩm. Trong những ngày cuối cùng của năm [Dương lịch], chúng ta nên dành thì giờ để nghĩ tới những người ta thương mến. Ta nên ngồi thiền, thực tập thiền hành, dành tất cả sự chú tâm và tất cả chánh niệm của mình cho những người mà ta đã nguyện thương yêu, trong đó có chính bản thân ta. Bởi vì thương yêu chính mình là nền tảng cho tất cả mọi tình thương. “Tôi nguyện thương yêu chính mình, chăm sóc cho mình để tôi có thể có khả năng chăm sóc những người tôi thương.”

Bài viết trên đây do BBT trích dịch từ pháp thoại tiếng Anh vào Giao thừa Tết Dương lịch năm 1995 của Sư Ông Làng Mai. Đã 29 lần chúng ta đi qua năm mới từ ngày ấy. "Mỗi lần cầm đến lại thành mới tinh” là một câu của thiền sư Trúc Lâm (pháp danh của vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia). Những gì Sư Ông dạy trong bài pháp thoại "vẫn thành mới tinh" khi năm mới lại về lần thứ 30. Trân trọng – BBT

https://langmai.org/tang-kinh-cac/bai-viet/nam-moi-co-hoi-lam-moi-chinh-minh/

XIN EM HÃY LÀ ĐOÁ HOA Khi chạy theo quyền lực giả tạo, hay chạy theo đối tượng của thèm khát, ta sẽ đánh mất một điều tố...
30/12/2025

XIN EM HÃY LÀ ĐOÁ HOA
Khi chạy theo quyền lực giả tạo, hay chạy theo đối tượng của thèm khát, ta sẽ đánh mất một điều tối ư cần thiết cho hạnh phúc – đó là tình yêu thương. Nhờ tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức, ta sẽ có cơ hội tìm thấy tình yêu thương chân thật. Văn hào Pháp Antoine de Saint-Exupéry nói rằng yêu không phải là ngồi nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng. Theo tôi, thì tất cả chúng ta phải quay về nhìn lại cuộc đời của mình thật sâu sắc để xem thử, bằng kinh nghiệm bản thân, câu nói này có đúng không, và nếu đúng thì đúng tới mức nào.

Mỗi chúng ta đều có nhu cầu và ước muốn, vì vậy khi thương yêu ai, ta có khuynh hướng nhìn vào người đó và hy vọng thấy được nơi người ấy những gì là chân, thiện, mỹ mà ta hằng tìm kiếm. Ta khao khát những gì chân thật. Ta mong cầu những gì thánh thiện, đẹp đẽ, tốt lành. Nhiều người trong chúng ta tin rằng nếu tìm thấy những phẩm chất ấy nơi người kia thì ta không còn thiếu thốn gì nữa và sẽ bớt cô đơn. Tất cả chúng ta đều mong đợi thấy được những đức tính đẹp đẽ đó nơi người khác. Chúng ta thường tin rằng rất ít người hội đủ những đức tính ấy, nên khi thấy những đức tính ấy nơi một người nào đó, ta liền đem lòng thương yêu người đó, bởi vì ta nghĩ rằng ta đã khám phá ra những gì là chân, thiện, mỹ. Phải cẩn thận trong cách tìm kiếm bởi vì tri giác ta có thể sai lầm. Đôi khi những gì ta nghĩ là chân thật chưa chắc thật sự chân thật, những gì tốt lành chưa chắc thật sự tốt lành, những gì là đẹp đẽ chưa chắc thật sự đẹp đẽ. Tình yêu của ta có thể đã dựa trên những tri giác sai lầm để rồi sau một thời gian, ta khám phá ra rằng ta đã nhầm, bởi vì người ấy không phải là hiện thân của chân, thiện, mỹ như ta đang trông đợi, và ta cho rằng người kia đã phản bội, đã làm khổ ta. Ta đi tìm một người khác. Ta có thể thất bại nhiều lần như thế, hết người này đến người khác, rồi ta đâm ra mệt mỏi, thất vọng, chán chường. Cứ như thế, suốt đời ta rong ruổi đi tìm một người trong mộng.

Vì mơ ước có được chân, thiện, mỹ mà ta cố gắng chứng tỏ là ta có chân, thiện, mỹ, dù chỉ ở bề ngoài. Trong thâm tâm, ta vẫn nghĩ rằng ta không thực sự thánh thiện, thực sự đẹp đẽ, cho nên ta tìm cách “cải thiện” bề ngoài của ta bằng mỹ phẩm, y phục, ăn kiêng hay giải phẫu thẩm mỹ. Rồi ta học hỏi nghiên cứu này nọ, hoặc làm những việc khác thường để được tiếng là một người có uy tín, có hiểu biết rộng. Rồi ta tự trang điểm bằng những danh hiệu và bằng khen.

Chúng ta đang lừa dối nhau. Tự đáy lòng, ta cảm thấy ta chẳng có gì thánh thiện, đẹp đẽ, nhưng đồng thời ta lại cố chứng tỏ với mọi người rằng ta là hết mực thánh thiện, hết mực đẹp đẽ, hết mực đáng tin cậy. Cứ như vậy tập khí được trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Và trong khi lừa dối những người khác thì ta lại bị người khác lừa dối. Chúng ta là nạn nhân của nhau. Ta trang điểm để che bớt những cái xấu của mình và người khác cũng làm y vậy.

Khám phá ra rằng trong ta có đủ những hạt giống của chân, thiện, mỹ, ta sẽ ngưng rong ruổi tìm cầu. Ta sẽ không còn đi lang thang với mặc cảm thấp kém. Ta sẽ không còn phải lừa dối nhau, không cần trang điểm bởi vì ta đã khám phá ra chân, thiện, mỹ ngay trong ta.

Trên đời này, ai cũng đầy đủ tính chân – thiện – mỹ dù là đàn ông hay đàn bà, giàu hay nghèo, sang hay hèn, có học thức hay không học thức, mạnh khỏe hay ốm đau. Vậy thì đâu phải tìm kiếm ở bên ngoài nữa, vì những gì ta tìm kiếm vốn sẵn có trong ta rồi. Tất cả chúng sinh đều có sẵn tự tính giác ngộ thanh tịnh, tròn đầy. Chỉ cần trở về tự thân để tiếp xúc với những gì là chân, thiện, mỹ, khi đó ta sẽ chấm dứt bao nhiêu kiếp rong ruổi tìm cầu. Ta sẽ có niềm tin vững chắc nơi ta và sẽ được hạnh phúc, sẽ có bình an.

Bụt dạy rằng trong mỗi chúng ta đều có sẵn bản tính thiện nhưng ta khó chấp nhận sự thật ấy nếu trong gia đình hay ở chỗ làm ta phải chứng kiến những điều trái tai g*i mắt. Phần đông chúng ta tin rằng ít có sự bình an ở nơi làm việc. Ta sợ mình không được thừa nhận. Ta không dám là chính mình. Ta thay đổi cách hành xử theo môi trường để được thừa nhận. Nếu hạnh phúc của ta hoàn toàn tùy thuộc vào quan điểm của những người khác, ta đâu còn tự tin. Và khi không được người khác thừa nhận, ta sẽ đau khổ. Đây là lý do khiến cho ta muốn trở thành một cái gì khác, một người nào khác. Đây chính là gốc rễ của đau khổ.

Một bông hoa không có nỗi lo sợ ấy. Nó cùng vươn lên với những bông hoa khác, hoa tím, hoa vàng, hoa đơn, hoa kép, nhưng bông hoa ấy không bao giờ có ý bắt chước những bông hoa khác. Xin đừng là một bông hoa nào khác. Xin đừng là một người nào khác. Không cần phải giải phẫu thẩm mỹ. Cả vũ trụ đã đến đây góp mặt để bạn biểu hiện ra như thế, đẹp đẽ như thế. Bạn như chính bạn là đẹp lắm rồi. Bạn không cần phải được những người khác thừa nhận. Bạn cần chấp nhận chính mình. Là hoa sen thì hãy cứ đẹp như hoa sen, đừng cố đẹp giống hoa mai. Nếu cứ cố gắng thay đổi mình để mong được mọi người thừa nhận, bạn sẽ suốt đời đau khổ. Hạnh phúc chân thật, quyền lực chân thật là tự hiểu mình, chấp nhận mình, có niềm tin nơi chính mình.
(Trích từ sách Quyền lực đích thực của thiền sư Thích Nhất Hạnh)
cứng Thiền Thất An Ban

Phật pháp căn bảnBài 06 : Đạo đế và chánh kiếnQuá trình Văn Tư Tu
28/12/2025

Phật pháp căn bản
Bài 06 : Đạo đế và chánh kiến
Quá trình Văn Tư Tu

Enjoy the videos and music you love, upload original content, and share it all with friends, family, and the world on YouTube.

27/12/2025

Cách hoá giải lời thề đã phát ra trong khi giận dữ - Vấn đáp cùng Sư ông Làng Mai

PHẬT PHÁP CĂN BẢNBài 06 Quá trình văn tư tuHôm nay là ngày 09 tháng 12 năm 1993, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp v...
25/12/2025

PHẬT PHÁP CĂN BẢN
Bài 06 Quá trình văn tư tu
Hôm nay là ngày 09 tháng 12 năm 1993, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp về Tứ diệu đế. Chúng ta đang nói về Chánh kiến, tức là cái thấy chính xác, trước hết là cái thấy về bốn sự thật là khổ, tập, diệt và đạo. Hôm nay, chúng ta quán chiếu về sự thật thứ tư là đạo.

Đạo tức là con đường (mārga, the way). Có con đường đưa chúng ta thoát khổ đau, có con đường chuyển hóa khổ đau. Dịch ra tiếng Anh một cách đơn giản thì khổ là ill hay là ill-being (duḥkha). Tập là sự tập hợp của những nguyên do đưa tới khổ, có thể dịch là arising (samudaya). Diệt là cessation, tức là chấm dứt, không tạo tác ra khổ nữa. Có thấy đạo thì mới có chánh kiến.

Chúng ta đã biết rằng khi quán chiếu về khổ một cách sâu sắc ta có thể thấy tập, thấy diệt và thấy đạo. Khi nhìn vào tập, chúng ta cũng thấy khổ, thấy diệt và thấy đạo. Nhìn vào diệt, chúng ta cũng thấy khổ, thấy tập và thấy đạo. Và bây giờ nhìn vào đạo, chúng ta cũng thấy rõ khổ, tập và diệt. Cho nên đạo chỉ có thể thấy được từ sự đau khổ. Nếu không nhận ra khổ thì không thể nào tìm ra đạo.

Người ta thường không hiểu đúng về đạo. Họ nghĩ rằng có một con đường tu hành, nhưng bây giờ còn trẻ, mình chưa tu làm gì vội. Đợi khi nào 60 hoặc 70 tuổi rồi tu cũng không muộn. Hoặc nghĩ rằng đạo là để dành cho những người già cả và những kẻ chán đời. Họ không biết rằng đạo là con đường chuyển hóa, giúp mọi người thoát khổ. Đạo vốn có nghĩa là con đường đi. Ở phương Đông, chúng ta nói đến đạo làm người, đạo làm cha, đạo làm thầy. Người con có đạo làm con, người vợ có đạo làm vợ, người chồng có đạo làm chồng, v.v. Trong sách Minh tâm bảo giám có câu “Mạc đãi lão lai phương học đạo, cô phần đa thị thiếu niên nhân”, nghĩa là đừng có đợi đến già rồi mới học đạo, tại vì cứ nhìn vào nghĩa địa thì biết, ở trong ấy có rất nhiều nấm mồ của những thiếu niên. Như vậy dù ở tuổi tác nào, ở vị trí nào chúng ta cũng cần học đạo. Và đạo mà Bụt dạy là đạo giải thoát, đạo sống an lạc.

Nhầm lẫn quan trọng hơn nữa là nhiều người nói về đạo như một lý thuyết, hay những hý luận cho vui. Nghĩ rằng về già mới cần học đạo, đó không phải là chánh kiến. Hý luận về đạo lại là một tà kiến khác. Nhiều người nói về đạo rất lưu loát, nhưng các lý thuyết họ nói không dính líu gì đến đời sống của họ cả. Trong giới Phật tử Việt Nam có rất nhiều người nói tới đạo một cách rất say mê, nhưng đạo ấy không được thể hiện trong đời sống và trong sự tu học của họ. Bài hát đạo ca: “Tôi là thiền sư buồn, ngồi tụng dưới ánh trăng…” dùng những danh từ đạo Bụt, kỳ thực không có nội dung đạo, chẳng qua chỉ là những ý tưởng ủy mị, lãng mạn về thiền, về đạo mà thôi. Có rất nhiều trường hợp, trong đó chúng ta hiểu lầm về đạo như vậy.

QUÁ TRÌNH VĂN TƯ TU
Cái nhìn về đạo chân chính bắt đầu từ văn, tư và tu, gọi là Tam học. Văn là học hỏi. Những đệ tử của Bụt gọi là thanh văn (śrāvaka), là người nghe giáo lý để tu học. Khi nghe giảng dạy về giáo lý, khi đọc kinh, khi pháp đàm, ta thực tập văn học. Văn học tức là học nghe. Học nghe, ta phải có thái độ cởi mở, phải thao thức, muốn hiểu, muốn thực hành, như thế mới gọi là văn học. Còn nếu nghe để đàm luận, nghe chỉ để phê phán và chỉ trích, nghe để chứa chấp kiến thức rồi khoe khoang, đó chưa phải là văn học.

Tư là suy ngẫm, tư duy, quán chiếu những điều mình nghe. Ta nghe một điều gì, dù điều đó từ một vị đạo sư nổi tiếng nói ra ta cũng phải tư, tức là phải thẩm xét giá trị ứng dụng của những điều đó. Ta không mù quáng nghe theo vô điều kiện. Sau khi nghe rồi, phải tư. Trong khi đang nghe, không tư, nghe là nghe mà thôi. Nghe xong rồi lúc đó mới quán chiếu, mới suy tư (reflecting). Tư là đem kinh nghiệm, đem trí tuệ, đem khổ đau của mình ra để mà xét nghiệm. Xem thử những điều mình nghe có thể trả lời được những nỗi đau khổ, những thắc mắc, những thao thức của đời mình hay không, như thế gọi là tư học.

Nghe giống như gieo hạt giống vào đất. Thực tập là tưới tẩm cho hạt giống có thể nảy mầm. Thực tập là tu, giai đoạn thứ ba gọi là tu học. Nếu không đem ra thực tập thì việc nghe không có lợi ích nào cả. Trong quá trình văn, tư, tu về đạo ta sẽ thấy được bản chất của đạo là làm bằng khổ, ta thấy khổ ở trong đạo. Đạo Bụt phát sinh là vì cuộc đời khổ đau, cho nên cuộc đời khổ đau là chất liệu làm ra đạo. Sự tỉnh thức, sự thương yêu phát sinh từ khổ đau. Đạo và khổ tương tức. Trong quá trình văn, tư và tu, chúng ta thấy khổ và tập ở trong đạo. Chúng ta biết rằng tập, những nguyên do làm ra khổ, nếu chuyển hóa được, thì khổ sẽ vắng mặt. Ba yếu tố khổ, tập và diệt có thể nhìn thấy trong đạo. Tâm kinh nói: “Không đạo”, có nghĩa là đạo không có ngoài khổ, tập và diệt. Không có cái này thì không có cái kia. Năm chữ “không khổ, tập, diệt, đạo” thuộc về chân đế, đó là sự thật vô lậu. Ngay trong quá trình tiếp xúc với mặt tục đế, ta đã thấy được bản chất của đạo, và chuyển hóa được tập. Nếu thấy cho rõ thì ta ngừng lại ngay, tự nhiên đi tới diệt. Chuyển hóa tập, thành tựu diệt sẽ làm vơi khổ, khiến cho cái khổ biến đi.

Nhờ quá trình văn, tư và tu mà lời nói và hành động của ta mỗi lúc mỗi tương ứng. Ví dụ một người giảng giải rất hay về Năm giới, nhưng vẫn chưa thực tập Năm giới một cách vững chãi. Nhờ quá trình văn, tư và tu nên sự thực tập Năm giới càng ngày càng vững; và lời nói của ta đi đôi với hành động, ngôn hành tương ưng. Nói theo Vương Dương Minh là “tri hành hợp nhất”.

ĐẠO VƯỢT TRÊN NGÔN NGỮ
Đạo bắt đầu bằng văn, tức là nghe, đọc và thâu nhận một số kiến thức. Rồi nhờ quán chiếu, suy ngẫm và áp dụng trong đời sống hàng ngày nên những kiến thức và ý niệm ban đầu biến dần thành tuệ giác thực sự. Vì vậy, chúng ta tránh nói tới đạo như là một chủ thuyết. Nhìn vào một con người có văn, có tư và có tu thì ta thấy sự thể hiện của đạo. Ta thấy người đó sẽ đạt tới diệt, buông bỏ được tập, và chuyển hóa được khổ. Quá trình tu học lúc đầu dựa vào ngôn ngữ, dựa vào ý niệm. Nhưng sau khi thực chứng, chúng ta sẽ không còn kẹt vào ngôn từ và ý niệm, sẽ tiếp xúc trực tiếp với bản môn. Đạo siêu việt ngữ ngôn, như trong Đạo đức kinh có câu “Đạo khả đạo, phi thường đạo” (đạo mà có thể đàm luận thì chưa phải đạo chân thường). Có những người tới hỏi đạo cốt để chất vấn và cãi lý về đạo, ta chỉ nên mỉm cười. Lý luận về đạo mất thì giờ, không có lợi ích gì. Ngồi uống trà với nhau còn có đạo vị hơn.

Bước đầu học đạo cần phải có những khái niệm về vô thường và vô ngã, về khổ, tập và diệt. Ban đầu ta cũng có thể dùng lý luận để dẹp trừ những tà thuyết. Nhưng sau đó ngôn từ và lý luận cũng được vượt luôn và lúc đó người tu học sử dụng chính sự sống của mình. Ta sống đời sống hàng ngày cách nào để cho người khác thấy chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh định và chánh kiến trở nên có mặt. Kinh thường kể những câu chuyện về những nhà triết học cứ muốn đàm luận và cãi lý với Bụt về những đề tài như vô thường, vô ngã và niết bàn. Mỗi lần Bụt thấy một nhà triết học tới ngồi sẵn sàng để đấu lý như vậy thì Ngài chỉ mời ngồi uống trà. Hỏi thì Ngài không nói. Chúng ta nhớ lại câu chuyện một nhà triết học tới hỏi Bụt về vấn đề có ngã hay không có ngã. Bụt ngồi im không nói gì. Sau đó ông ta đi mất. Thầy A Nan thắc mắc, thì Bụt bảo: “Ông ấy đi tìm một học thuyết để chống đối hoặc ủng hộ, chứ không đi tìm pháp môn tu học. Nói không có ngã, ông sẽ bị kẹt, mà nói có ngã ông cũng bị kẹt. Không nói là đỡ cho ông ta hơn.”

Đạo vượt lên trên ngữ ngôn, ý niệm và lý luận. Nói như vậy không có nghĩa là ngữ ngôn và khái niệm không có ích lợi. Khi người ta thao thức học hỏi để tu tập thì ngữ ngôn và khái niệm là những bảng chỉ đường có thể sử dụng được. Cũng như bản đồ của một thành phố tuy không phải là thành phố nhưng có thể giúp ta đi trong phố xá mà không lạc đường. Khi đạo đã là sự thật trong đời sống hàng ngày rồi thì sự tu học trở thành rất tự nhiên, rất nhẹ nhàng, không nặng về hình thức. Đạo có tính cách vô hành. Vô hành là không làm gì cả. Kinh Tứ thập nhị chương, xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ ba, có câu “Ngã pháp hành vô hành hạnh, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng” (Pháp của ta là hành cái hạnh vô hành, tu cái tu vô tu và chứng cái chứng vô chứng). Ý nghĩa câu đó là đạo vượt thoát các hình thức và ý niệm.

Đạo đế cũng có phần hữu lậu và phần vô lậu. Phần hữu lậu là thế gian (lokya), là phần hướng thượng, dần dần bớt khổ thêm vui. Phần vô lậu là xuất thế gian (lokottara) là phần vượt thoát hoàn toàn biên giới của ngôn từ, ý niệm, khổ và vui.

KINH CHÁNH KIẾN
Chánh kiến thường được diễn tả là thấy được Tam bảo, thấy được thiện ác, v.v.. Nhưng trước hết chánh kiến là phải thấy được bản chất về bốn sự thật. Cái thấy về bốn sự thật là căn bản của chánh kiến. Trong Tam tạng kinh điển có nhiều kinh nói về chánh kiến, cái thấy chân thật (samyak dṛṣṭi). Có một kinh do thầy Xá Lợi Phất giảng, gọi là kinh Chánh kiến (Sammādiṭṭhi sutta). Kinh này là kinh thứ 9 ở Trung bộ (M. 9). Thầy Xá Lợi Phất đã nói nhiều kinh về đề tài Tứ diệu đế, trong đó có kinh Dấu chân voi, Tượng tích diệu kinh. Con voi chúa đi trước để lại những dấu chân rất lớn. Những con đi sau có thể bước lên trên dấu chân đi trước; nhưng không có dấu chân con thú nào lớn bằng dấu chân con voi. Giáo lý Tứ diệu đế cũng vậy, bao gồm tất cả các giáo lý khác. Kinh Chánh kiến ở Trung bộ có một kinh tương đương bằng Hán văn, đó là kinh 344 ở Tạp A hàm. Học kinh này ta thấy thầy Xá Lợi Phất dạy một sư em tên là Ma Ha Câu Thi La và một số các thầy khác về cái thấy chân chính.

Theo thầy Xá Lợi Phất, chánh kiến trước hết là sự phân biệt những gốc rễ lành và những gốc rễ không lành, thiện căn và bất thiện căn (wholesome roots and unwholesome roots). Quán chiếu thì chúng ta sẽ thấy có ba loại gốc rễ lành: vô tham (absence of greed), vô nhuế (absence of anger) và vô hại (absence of violence), tức là cái rễ không tham đắm, cái rễ không giận hờn và cái rễ bất bạo động. Bất bạo động (ahiṃsā) tức là vô hại. Vô hại tức là không muốn gây đổ vỡ cho mình, cho người và cho thiên nhiên. Những gốc rễ bất thiện là tham, nhuế và hại. Chữ tham có nhiều nghĩa, đó là vướng mắc, là thèm khát, không bao giờ thỏa mãn. Ngược lại với tham là tri túc, tức là bằng lòng với tình trạng vừa đủ, để có an lạc cho thân tâm.

Các thầy khác hỏi: “Có chánh kiến về các phương diện khác không?” Thầy Xá Lợi Phất trả lời: “Có chứ, ví dụ chúng ta nói đến chánh kiến về phương diện các loại thức ăn. Chúng ta phải phân biệt bốn loại thức ăn”.

BỐN LOẠI THỨC ĂN
Loại thức ăn thứ nhất là Đoàn thực, tức là những thức ăn đi vào miệng của chúng ta. Chánh kiến cũng là biết phân biệt những đoàn thực có hại và những đoàn thực không có hại. Chúng ta phải biết những thức ăn và thức uống nào gây tàn phá và làm mất sự điều hòa trong cơ thể. Khi chúng ta ăn những món hiền lành và bổ dưỡng thì chúng ta cũng biết. Đó gọi là chánh kiến. Ta thực tập chánh kiến ngay trong đời sống hàng ngày, trên bàn ăn và trong khi nấu ăn, chứ không phải chỉ thực tập trong thiền đường mà thôi. Trước khi ăn, chúng ta nói: “Chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh”, đó là chánh kiến áp dụng khi ăn và khi nấu ăn.

Nói về Đoàn thực, Bụt đã dùng hình ảnh của hai vợ chồng nhà kia ăn thịt con. Hai vợ chồng này mang đứa con trai duy nhất đi qua sa mạc. Họ nghĩ rằng số lương thực đem theo là đủ cho chuyến đi. Nhưng chưa ra khỏi sa mạc, họ đã hết thực phẩm. Hai vợ chồng biết rằng cả ba người sẽ chết đói. Cuối cùng, họ phải đành tâm ăn thịt đứa con để có thể sống mà ra khỏi sa mạc. Họ vừa ăn thịt con vừa khóc. Bụt hỏi: “Này các thầy, khi hai vợ chồng đó ăn thịt đứa con thì họ có thấy thích thú gì không?” Các thầy thưa: “Bạch đức Thế Tôn, làm sao thích thú được khi biết mình đang ăn thịt con.” Bụt dạy: “Trong đời sống hàng ngày, trong khi tiêu thụ, chúng ta cũng phải biết thức ăn của mình đã có thể được tạo ra bằng sự đau khổ cùng cực của kẻ khác, của những loài sinh vật khác.” Hai tay nâng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Ăn không có chánh niệm, ta tạo khổ đau cho mọi loài và khổ đau cho chính bản thân ta. Khi ta hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều thức béo vào, là ta đang ăn buồng phổi của ta, đang ăn lá gan, trái tim của ta, ta đang ăn thịt ta. Nếu là cha, là mẹ thì lúc đó ta đang ăn thịt con ta tại vì các con cần có cha mẹ mạnh khỏe, tươi vui. Và nếu cha mẹ trong khi ăn uống mà tàn hại thân thể của chính mình thì chính cha mẹ đang giết con. Thành ra ăn như thế nào để đừng tạo ra những khổ đau cho các loài và đừng tạo khổ đau cho chính mình, đó là chánh niệm và chánh kiến. Đạo Bụt trong cả Nam tông và Bắc tông đều tin rằng chúng sanh từ đời này sang đời khác thay phiên lần lượt làm cha làm mẹ của nhau. Vì vậy mỗi khi ăn thịt, chúng ta hãy có ý thức rằng có thể ta đang ăn thịt cha mẹ hay con cái của ta. Do đó, chúng ta đã tập ăn chay và tập không sát sanh.

Loại thức ăn thứ hai là Xúc thực. Chúng ta có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Chúng tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Ta phải thấy rằng việc tiếp xúc đó có đem chất độc vào người hay không. Ví dụ như khi ta xem truyền hình, mắt ta tiếp xúc với hình sắc. Phải thực tập chánh kiến xem chương trình truyền hình kia có đưa vào trong tâm ta những độc tố như sợ hãi, căm thù và bạo động hay không. Có những phim mang lại cho ta sự hiểu biết, lòng từ bi, chí quyết tâm muốn giúp người, quyết tâm không làm những điều lầm lỗi. Ta biết ta có thể xem phim đó. Ấy là ta thực tập chánh kiến. Người lớn cũng như trẻ em, trong khi xem phim, phải biết thực tập chánh kiến. Phải biết rằng có những chương trình truyền hình chứa đựng rất nhiều độc tố như bạo động, căm thù và dục vọng. Ngay cả những thước phim quảng cáo cũng khơi động thèm khát, dục vọng hay sợ hãi của người xem. Khi xem một tờ báo không có chánh niệm, chúng ta có thể tiếp nhận rất nhiều độc tố, đọc xong ta có thể mệt nhoài vì những điều ta đọc có thể khiến chúng ta chán nản, lo lắng và ghê sợ. Chính những câu chuyện hàng ngày cũng có thể mang nhiều độc tố. Đó là xúc thực.

Chánh kiến phát sinh ra chánh niệm và chánh niệm cũng làm phát sinh chánh kiến. Tôi biết rằng nhìn, nghe và tiếp xúc với những gì thì thân tâm tôi sẽ khỏe khoắn, nhẹ nhàng, an lạc và tôi quyết định mỗi ngày tiếp xúc với những chất liệu đó. Còn những thứ làm tôi mệt, tôi buồn, tôi lo, tôi giận thì tôi sẽ tránh tiếp xúc. Đó là chánh niệm về xúc thực, có được nhờ chánh kiến về xúc thực. Bụt dạy rằng con người rất dễ bị thương tích, trên cơ thể cũng như trong tâm hồn. Bụt đã dùng hình ảnh một con bò bị lột da dẫn xuống sông. Dưới sông có hàng vạn loài sinh vật li ti bu lại hút máu và rỉa thịt con bò. Và khi ta đưa con bò tới đứng gần một bức tường hay một thân cây cổ thụ, cũng có những sinh vật li ti sống trên bức tường và trong cây cổ thụ bay ra, bám vào con bò để hút máu. Nếu chúng ta không giữ gìn thân và tâm bằng chánh kiến và chánh niệm thì các độc tố trong cuộc đời cũng bám lại và tàn phá thân tâm ta. Năm giới mà chúng ta tiếp nhận và hành trì là bộ da bao bọc thân thể và tâm hồn ta. Nếu không hành trì Năm giới là chúng ta không thực tập chánh kiến. Và trong mỗi chúng ta vốn đã có hạt giống của chánh niệm. Thực tập chánh niệm cũng như tạo ra những kháng thể để chống lại sự thâm nhập của các độc tố kia.

Loại thức ăn thứ ba là Tư niệm thực. Đó là những nỗi ước ao ta muốn thực hiện cho đời ta. Mong muốn làm giám đốc một hãng buôn lớn, hay mong muốn đậu bằng tiến sĩ, những mong muốn như thế thâm nhập vào người ta giống như một thức ăn. Mong muốn là một loại thực phẩm gọi là tư niệm thực. Ước muốn mạnh sẽ giúp ta có thêm năng lượng để thực hiện hoài bão. Nhưng có những loại tư niệm thực làm cho ta khổ đau suốt đời. Như danh, lợi, tài và sắc. Muốn được mạnh khỏe và tươi vui, muốn được giúp đỡ cho gia đình và xã hội, muốn bảo vệ thiên nhiên, tu tập để chuyển hóa, để thành một bậc giác ngộ độ thoát cho đời thì đó là loại tư niệm thực có thể đưa tới an lạc, hạnh phúc. Về tư niệm thực, Bụt kể chuyện một người bị hai lực sĩ kéo xềnh xệch trên mặt đất để đi tới một hầm lửa. Hai lực sĩ khiêng người kia ném xuống hầm lửa đang bốc cháy. Bụt nói rằng khi ta bị những tư niệm thực bất thiện chiếm cứ, bị danh, lợi, tài và sắc lôi cuốn thì cũng như ta bị những chàng lực sĩ kéo đi liệng xuống hầm lửa. Do đó, người tu học phải có chánh kiến, phải nhận diện được tư niệm thực trong ta là loại nào.

Loại thức ăn thứ tư là Thức thực. Chúng ta là sự biểu hiện của thức, gồm có y báo và chánh báo. Chánh báo là con người gồm năm uẩn của ta và y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta.

Vì hành động tự nhiều kiếp xưa nên bây giờ ta có chánh báo này, với y báo này. Chánh báo và y báo đều là sự biểu hiện của tâm thức. Khi làm công việc nhận thức, tâm cũng giống như cơ thể đón nhận các món ăn. Nếu trong quá khứ tâm thức ta đã tiếp nhận những thức ăn độc hại, thì nay tâm thức ta biểu hiện ra y báo và chánh báo không lành. Những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy tư, tưởng tượng, tất cả những thứ ấy đều như muôn sông chảy về biển tâm thức. Và những vô minh, hận thù và buồn khổ của ta đều trôi về biển cả của tâm thức ta. Vì vậy, ta phải biết mỗi ngày chúng ta nhận vào tâm thức của ta những món ăn nào. Chúng ta cho tâm thức ăn kinh Kim cương, kinh Pháp hoa hay là chúng ta cho nó ăn tham, sân, si, mạn, nghi và tà kiến? Chúng ta cho nó ăn từ, bi, hỷ, xả hay là chúng ta cho nó ăn trạo cử, hôn trầm, giải đãi, phóng dật?

Về thức thực, Bụt đã dùng hình ảnh một người tử tù và ông vua. Buổi sáng vua ra lệnh lấy 300 lưỡi dao cắm vào thân thể của một tử tội. Tới buổi chiều vua hỏi: “Người tù đó bây giờ sao?” – “Tâu Bệ hạ, nó còn sống.” – “Vậy thì đem nó ra, lấy 300 lưỡi dao đâm qua người nó một lần nữa.” Và buổi tối, vua hỏi: “Kẻ đó bây giờ ra sao?” – “Còn sống.” – “Hãy lấy 300 mũi dao đâm qua thân thể nó một lần nữa!” Bụt dùng ví dụ đó để nói chúng ta cũng đang hành hạ tâm thức của ta y như thế. Mỗi ngày chúng ta đâm 900 mũi dao của độc tố vào trong tâm thức ta. Những mũi dao của tham lam, giận dữ, ganh tỵ, hờn giận, thù oán, vô minh.

Bốn ví dụ kể trên được chép trong kinh Tử nhục. Tử nhục là thịt của đứa con. Bốn ví dụ nghe rất ghê sợ, có tác dụng răn bảo chúng ta phải tỉnh táo giữ gìn chánh kiến.

Thầy Xá Lợi Phất nói: “Người có chánh kiến là người hiểu được bản chất của bốn loại thực phẩm như trên.” Nếu anh chưa biết được cái bản chất của bốn loại thực phẩm là anh chưa có chánh kiến. Sau khi thầy Xá Lợi Phất nói về bốn loại thực phẩm, các thầy khác lại hỏi tiếp: “Có thể nói về chánh kiến dưới một phương diện khác nữa hay không?” Thầy Xá Lợi Phất trả lời: “Có, chánh kiến là cái thấy của chúng ta về bốn sự thật, gọi là Tứ đế. Phải thấy được khổ, phải thấy được tập, phải thấy được diệt, phải thấy được đạo.” Các thầy hỏi thêm, thầy Xá Lợi Phất nói tiếp về chánh kiến qua Mười hai nhân duyên. Các thầy lại hỏi thêm nữa, và thầy Xá Lợi Phất nói rằng chánh kiến có thể nhìn dưới khía cạnh hữu lậu và vô lậu. Phần hữu lậu là thế gian và phần vô lậu là xuất thế gian. Phần thứ nhất là hướng thượng, phần thứ hai là lậu tận. Khi nào diệt hết phiền não thì gọi là lậu tận, tức là vượt ra khỏi biên giới của khổ đau. Những điều này cũng được nói tới trong nhiều kinh khác[1].

Chúng ta phải bắt đầu bằng phần thế gian. Chánh kiến (right view) là cái đi ngược lại với tà kiến (wrong view). Tà kiến là nói rằng không có nhân quả, không có thiện ác, không có cha mẹ, không có tình nghĩa. Chánh kiến là biết có nhân có quả, có phân biệt thiện ác, có đời trước đời này, có cha có mẹ, có tình có nghĩa, v.v.. Chúng ta phải bắt đầu từ phần đạo đức thế gian, theo lời thầy Xá Lợi Phất dạy. Chánh kiến gồm khả năng nhận diện những thiện căn và những ác căn ở trong ta, khả năng thấy được bản chất của Tứ diệu đế, khả năng có thể thấy được Bốn loại thực phẩm và khả năng có thể thấy được Mười hai duyên khởi.

TƯỚI TẨM HẠT GIỐNG CHÁNH KIẾN
Làm thế nào để đạt được chánh kiến? Trước hết chúng ta phải học. Quá trình văn, tư, tu (nghe – suy nghiệm – thực tập) bắt đầu bằng văn, nghĩa là phải học, phải tập lắng nghe. Chánh kiến có thể trao truyền được không, hay là tự mình phải đạt lấy? Ta nhớ rằng chánh kiến đã có sẵn hạt giống ở trong mỗi người. Thầy giỏi và bạn giỏi là những người có thể khơi động được hạt giống của chánh kiến ở trong ta. Người dạy ta có chánh kiến không, có chánh kiến tới mức nào? Chánh kiến của người ấy đã vững chãi chưa hay chỉ là một số khái niệm và ngôn từ học được từ các thầy khác hay trong kinh sách? Học không phải là thâu thập kiến thức. Học lý thuyết mà không chứng nghiệm thì cũng như con tằm ăn lá dâu mà không làm được tơ, không có ích lợi gì cả.

Chánh kiến có thể tiếp thu, có thể trao truyền. Nhưng việc trao và nhận cần nhiều điều kiện. Người dạy ta về chánh kiến, cuốn sách ta đọc, cuốn kinh ta tụng phải có khả năng khơi dậy những hạt giống chánh kiến trong ta. Hạt giống chánh kiến có sẵn. Bụt dạy tất cả mọi người đều có hạt giống của tuệ giác. Cho nên khi được nghe, được tiếp xúc với những dấu hiệu của chánh kiến thì tự nhiên ta sẽ hiểu. Những kinh nghiệm khổ đau của ta cũng giúp ta tiếp nhận chánh kiến. Chánh kiến chỉ có thể trao truyền trong những thời gian và địa điểm thích hợp, bằng ngôn ngữ từ ái, khế cơ, những ngôn ngữ có khả năng đánh thức được hạt giống chánh kiến có sẵn trong người nghe. Người nghe lúc đầu có thể chỉ hiểu bằng trí óc thôi, điều nghe chưa thấm vào tâm thức hoặc chưa thể nghiệm được, vì còn thiếu kinh nghiệm sống. Nhưng hạt giống chánh kiến chứa sẵn trong tâm một ngày kia sẽ nảy mầm. Khi kinh nghiệm đau khổ đã chín muồi thì chỉ cần nghe một câu nói hay một bài pháp thoại là người ấy đã có thể chuyển hóa. Cho nên tạo ra những điều kiện giúp ta tiếp nhận chánh kiến là điều rất quan trọng.

Nhiều người thấy mình đã sẵn sàng để tiếp nhận chánh pháp, nhưng vẫn phải chuẩn bị một thái độ thích đáng. Nghe một bài pháp, phải để cho giáo pháp có cơ hội thấm sâu trong tâm thức để tiếp xúc, đánh thức và tưới tẩm những hạt giống chánh kiến ở trong mình. Nếu chỉ dùng trí năng để tiếp nhận chánh kiến thì sẽ không có kết quả bao nhiêu. Tôi thường nói với thiền sinh là nghe pháp thoại (văn) là một phép thực tập mà việc thực tập thì không phải chỉ cần đến trí năng. Phải thực tập với thân, tâm và cả tàng thức của ta. Tàng thức như mặt đất, gọi là đất tâm (tâm địa). Trong đất tâm của ta có những hạt giống của chánh kiến. Khi nghe pháp đừng dựng lên những bức tường trí năng. Không suy đoán, không so sánh, không bình luận.

Trong giai đoạn văn, ta chưa cần tư. Khi nghe pháp thoại hãy khoan dùng trí năng phân biệt, mà phải đưa cả thân tâm ra. Khi nghe pháp, ta phải để mặt đất tâm mở rộng thênh thang cho mưa pháp thấm nhuần. Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt, hạt đậu năm xưa hé miệng cười. Đất tâm thấm ướt thì hạt giống tuệ giác ở trong ta mới nảy mầm được. Cho nên ngồi nghe pháp thoại phải như ngồi thiền, phải ngồi cho đẹp, thanh thản và chỉ lắng nghe thôi. Mở rộng tấm lòng không thành kiến để tiếp nhận lời pháp thoại. Nghe mà đã có định kiến rồi thì không tiếp nhận được nữa. Lúc nghe chúng ta đừng đem so sánh những lời đang nghe với ý kiến có sẵn của mình. Đừng vừa nghe vừa phê phán: giống, khác, đúng, sai và lấy các định kiến của mình làm tiêu chuẩn. Bị bức tường trí não và thành kiến ngăn chặn, những điều ta nghe không thấm vào lòng ta được nữa. Cho nên bí quyết của nghe (văn) là lòng trống, là không tâm. Nghe, tiếp nhận và thấu hiểu rồi, sau đó mới tư và tu, nghĩa là mới suy ngẫm, chiêm nghiệm và đem vào cuộc sống.

Vào thời Bụt còn tại thế, nhiều người tới nghe Bụt giảng lần đầu, trong khi nghe đã tỉnh thức ngay. Họ giác ngộ tức thời trong khi nghe Bụt nói, vì họ đã từng đau khổ và đã dày công tu tập. Chỉ văn thôi là đã chứng. Ba việc văn, tư và tu diễn ra trong cùng một khoảnh khắc. Vì ở trong con người của những kẻ ấy những điều kiện của giác ngộ đã đầy đủ rồi, chỉ còn một chỗ nào đó còn bị kẹt mà thôi. Bây giờ nghe một bài pháp thoại thì tự nhiên chỗ bị kẹt đó được tháo gỡ, và sự thật b**g ra.

Chánh kiến có thể được nói tới như là nhân hay là quả. Chánh kiến tiếp nhận vào là nhân. Tư và tu lại mang chánh kiến tới như kết quả của sự thực tập. Về phương diện chánh kiến như là nhân, thì phần ý niệm và danh từ còn quan trọng. Qua quá trình văn tư tu trở thành chánh kiến quả thì chánh kiến quả vượt khỏi ngôn từ và khái niệm. Về phương diện quả thì chánh kiến là tuệ giác, là bản chất của giác ngộ, của bồ đề.

Khi thành đạo dưới cây bồ đề thì không còn vấn đề khái niệm và danh từ mà chánh kiến nở ra như một đoá hoa lớn, Bụt đạt tới cái thấy hoàn toàn, vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì cái thấy đó thuần tuý là tuệ giác. Nhưng khi bắt đầu giảng cho các thầy về Tứ diệu đế là Bụt bắt đầu phải dùng ý niệm và ngôn từ. Ý niệm về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Đọc trong kinh chúng ta thấy rằng sau khi Bụt thành đạo, Ngài đã ở lại bờ sông Ni Liên Thuyền 49 ngày. Trong 49 ngày đó, Ngài sống an trú thảnh thơi trong sự thành đạo, nhưng đồng thời Ngài cũng bắt đầu thiết lập các ngôn từ và ý niệm để chuẩn bị giảng dạy. Chúng ta thấy bài thuyết pháp đầu tiên về Tứ đế và Bát chánh đạo đã được xây dựng một cách rất kỹ lưỡng, rất đẹp và rất thích hợp với năm người đệ tử đầu. Nhưng đó chỉ là cái bình để đựng nước. Nước chánh kiến đã có sẵn, muốn hiến nước cho người, phải đem tặng trong một cái bình. Và Tứ diệu đế, Bát chánh đạo là bình nước tuệ giác đầu tiên mà Bụt đem chia sẻ cùng nhân loại.

Thầy Thái Hư (1890-1947) ở Trung Quốc, đã dùng các danh từ giáo lý bản chất và giáo lý ảnh tượng. Giáo lý ảnh tượng là giáo lý được trình bày qua ngôn từ và khái niệm, còn giáo lý mà ta sống là giáo lý bản chất. Chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cười, tư duy,… đều là giáo lý bản chất, là thân giáo. Thầy dùng hình ảnh của một thân cây, một cây bồ đề. Khi mặt trời chiếu xuống, cây đổ bóng trên mặt đất. Có một người đứng ở đây, không nhìn lên, chỉ nhìn ngang và được người ta chỉ cho cái bóng của cây: đây là bóng cây, nếu anh tìm tới gốc và nhìn lên anh sẽ thấy cây.

Giáo lý ảnh tượng như bóng cây, giáo lý bản chất là cây. Cây là tuệ giác chân thật, bóng cây là khái niệm và ngôn từ diễn tả tuệ giác. Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ, tất cả giáo lý trong các kinh điển đều là ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay chỉ mặt trăng không phải là mặt trăng nhưng nếu không có ngón tay chỉ thì ta không biết phương hướng nhìn về mặt trăng. Khi nương vào giáo lý ảnh tượng để tu tập, một ngày kia ta thấy được giáo lý bản chất, tức là tuệ giác siêu việt ngôn từ và ý niệm.

Duy biểu học (thường gọi là Duy thức học) nói về các phiền não như tham, sân, si, mạn, nghi và kiến. Không cần dùng chữ tà kiến, vì kiến đã có nghĩa là cái thấy sai lầm rồi. Kiến nghĩa là một cái thấy phiến diện, thấy một mặt. Đứng về phương diện thế gian mà nói thì có chánh kiến, có tà kiến, chánh kiến đối lập với tà kiến. Nhưng khi đạt trình độ xuất thế gian thì tất cả mọi kiến đều là tà kiến. Ví dụ vô thường là chánh kiến, thường là tà kiến; ngã là tà kiến, vô ngã là chánh kiến. Nhưng đứng về phương diện xuất thế gian thì thường là tà kiến mà vô thường cũng trở thành tà kiến. Vô thường là thứ thuốc trị bệnh giúp ta khỏi vướng mắc vào cái thấy về thế giới mà ta nghĩ là trường tồn. Nhưng nếu ta lại vướng mắc vào ý niệm vô thường thì vô thường cũng là một cái thấy (kiến) sai lầm. Vô thường là cái ta chứng nghiệm trong đời sống, không phải chỉ là một khái niệm. Học Phật, chúng ta hay bị vướng vào những ý niệm vô thường và vô ngã. Với tuệ giác siêu việt thì ý niệm về thường phải được vượt qua mà ý niệm về vô thường cũng phải được vượt qua. Ý niệm về ngã phải vượt mà ý niệm vô ngã cũng phải vượt. Cũng như trong kinh Bảo tích nói: “Thà rằng bị kẹt vào ý niệm hữu, còn hơn là bị kẹt vào ý niệm không.” Không là một thứ thuốc để trị bệnh hữu nhưng nếu ta bị bệnh không thì không còn thuốc nào để chữa. Tóm lại, tu tập chánh kiến trước hết là học hỏi và tiếp nhận những ngôn từ và khái niệm chuyên chở tuệ giác. Rồi nhờ quá trình văn, tư và tu mà tuệ giác đó dần dần lớn lên. Và khi đã đạt được tuệ giác thì không những tất cả các khái niệm về tà kiến mà cả những khái niệm về chánh kiến cũng được thắng vượt. Kinh Pháp môn căn bản (Mūlapariyāya, Trung bộ 1) nói rất rõ sự vượt thắng ý niệm về tà kiến, đứng trên lập trường xuất thế. Không những ý niệm “ta có tự ngã” là một tà kiến mà cả ý niệm “ta không có tự ngã” cũng là một tà kiến.

Tuệ giác đạt được nhờ chánh kiến càng lớn thì hành động của chúng ta càng sáng. Chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh định, v.v. tất cả đều tùy theo chánh kiến. Phẩm chất của bảy phần kia trong Bát chánh đạo đều tùy thuộc phẩm chất của chánh kiến. Cho nên kinh Tạp A hàm 785 cũng như trong kinh Thánh đạo, Majjhima Nikāya 117, đều nói rằng chánh kiến đứng hàng đầu. Việc tu tập chánh kiến lúc đầu giúp ta phân biệt chánh kiến và tà kiến. Cuối cùng nhờ chánh kiến ta biết rằng tất cả các kiến đều là tà kiến. Cho nên chánh kiến tức là vốn liếng tu học, vốn liếng hành trì của chúng ta. Nếu vốn liếng đó phong phú thì tất cả những sự hành trì trong các lĩnh vực chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định cũng sẽ giàu có. Học hỏi như thế nào để cho những hạt giống chánh kiến trong tâm được đánh thức, được nảy mầm, thì lúc đó những điều chúng ta học hỏi mới thật sự là chánh kiến.

[1] Các kinh căn bản nói về Bát chánh đạo đều phân biệt hai mặt của Bát chánh đạo. Hai mặt ấy là hữu lậu và vô lậu. Xin tham khảo kinh Thánh đạo (Trung A hàm 189), kinh Tạp A hàm 785 và kinh Mahā Cattārisaka (Trung bộ 117). Kinh Tạp A hàm 785 rõ nhất.

Theo gốc chữ lậu tức là sự rỉ chảy, sự trôi lăn. Vô lậu tức là chấm dứt sự rỉ chảy, sự trôi lăn. Lậu có thể dịch là sự đi vòng, āsrava. Lậu do đó có nghĩa là phiền não, thành ra āsrava là kleśa (phiền não). Khi nào mà chúng ta diệt hết tất cả phiền não thì gọi là lậu tận, tức là hoàn toàn giải thoát, vượt ra khỏi biên giới của khổ đau. Xuất thế gian thì mới gọi là lậu tận. Trong sáu phép thần thông thì lậu tận thông là cao nhất. Lậu tận thông tức là gột sạch hết tất cả phiền não, còn các thần thông khác như thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông thì không quan trọng bằng.

Address

Quang Nam
51300

Opening Hours

Monday 07:00 - 17:30
Tuesday 07:00 - 17:30
Wednesday 07:00 - 17:30
Thursday 07:00 - 17:30
Friday 07:00 - 17:30
Saturday 07:00 - 17:30
Sunday 07:00 - 17:30

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thiền Thất An Ban posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share