06/10/2025
6. Cơn phẫn nộ của Thà Rặt
Thà Rặt là một người mạnh mẽ và không biết sợ hãi. Khi ngài đã không còn tôn trọng, ngài cũng sẵn sàng đối đầu không khoan nhượng. Chỉ ít ngày sau, ngài đã ban hành lệnh cấm vận tàn khốc với toàn bộ người dân ở làng Thạt Na, có một loạt lệnh điều động dân phu khắc nghiệt và tăng gấp đôi số thuế phải nộp cho phủ. Đây là những chính sách trừng phạt vô cùng nghiêm khắc mà Thà Rặt chưa bao giờ áp dụng với làng nào khác.
Trai phu ở làng Thạt Na đi xuống tỉnh và đi vào quận đô đều không được thuê làm việc cũng như không được cho đổi chác các nhu yếu phẩm với các vùng khác. Thà Rặt đã ra lệnh cho tất cả các thương gia, các chủ đồn điền, các nhà máy xay xát trong vùng không được giao dịch với bất cứ ai từ làng Thạt Na.
"Làng Thạt Na bao che cho tội phạm ẩn nấp, trong làng ấy, bất cứ ai cũng có thể là tội phạm, hoặc hang ổ của chúng. Ai dám thuê người của làng Thạt Na hay mua bán với chúng thì cũng sẽ chịu chung số phận với chúng!" - Thà Rặt tuyên bố.
Trong làng Thạt Na có những nhà đã bắt đầu hết gạo và phải chịu cảnh đói khát không đủ bữa. Những gia đình nghèo nhất phải bán đồ đạc, thậm chí bán cả ruộng đất với giá rẻ mạt để có tiền mua lương thực.
Mọi con đường thương mại đều bị cắt đứt một cách có hệ thống. Các thương gia không dám mua bán với người làng Thạt Na vì sợ bị Thà Rặt trừng phạt và tịch thu tài sản. Thậm chí việc đi lại giữa các làng cũng trở nên khó khăn và nguy hiểm khi các quan lính được lệnh kiểm tra và quấy nhiễu bất cứ ai có liên quan đến làng Thạt Na.
"Làng này đã xúc phạm đến ngài hào trưởng, chúng ta phải tránh xa họ!" - các làng xung quanh đều nói như vậy.
Những gia đình có con em làm việc ở quận đô đều bị sa thải một cách đột ngột và vô lý. Không ai dám tuyển dụng họ, kể cả những công việc khó khăn và lương thấp nhất. Thà Rặt còn ra lệnh cấm mọi hình thức cứu trợ từ bên ngoài đến với làng Thạt Na. Các quan lại cấp dưới của Thà Rặt cũng hiểu ý ngài và thi hành lệnh cấm vận một cách nghiêm khắc. Họ biết rằng nếu để sót ai từ làng Thạt Na được làm việc hay buôn bán, họ sẽ bị ngài hào trưởng trừng phạt nặng.
Chính quyền cấp tỉnh và tỉnh trưởng đều nể mặt hoàng gia và quyền lực của Thà Rặt nên không can thiệp gì vào các chuyện "nội bộ" xảy ra tại các làng dưới quyền cai quản của các hào trưởng. Họ coi đây là chuyện riêng giữa hào trưởng và dân làng, không muốn dính líu vào.
Chỉ trong bỗng chốc, làng Thạt Na rơi vào tình thế hỗn loạn và tuyệt vọng. Trẻ em khóc đói từ sáng đến tối, tiếng khóc thảm thiết ấy vang lên khắp làng như tiếng kêu cứu của những linh hồn đang chịu đau khổ. Người già bệnh tật không có thuốc men, có những cụ đã qua đời vì không chịu nổi cảnh đói khổ kéo dài. Các gia đình phải bán từng món đồ đạc trong nhà để mua lương thực với giá cắt cổ từ những kẻ đầu cơ tích trữ.
Những người đàn ông trong làng phải đi xa hơn để tìm việc làm, nhưng tin tức về lệnh cấm vận đã lan rộng, không ai dám thuê họ. Một số người đã phải đi bộ hàng trăm cây số để tìm đến những vùng đất xa xôi mà tin tức chưa lan đến, nhưng cũng chỉ kiếm được những công việc tạm thời và lương rất thấp.
Cụ Ra Xi lo lắng cho vận mệnh của dân làng và thương xót cho người dân trong làng, ngày nào cụ cũng tới điện thần Sukhothai để chắp tay khấn nguyện cầu xin Đức Nagini phù hộ cho làng vượt qua cơn bĩ cực này. Cụ đi lên thánh địa với đôi chân run rẩy của tuổi già, mỗi bước đi đều nặng nề vì gánh lo.
Cụ thường ngồi trước bàn thờ trong thánh điện từ sáng sớm đến tối muộn, tay cầm tràng hạt, miệng thì thầm những lời cầu nguyện:
" Xin các đức Thánh Thần thương xót và ban phước lành cho những người dân lương thiện..."
Cụ lo nghĩ quá đâm ra sinh bệnh, cụ tuổi cũng đã cao lắm rồi - tám mươi ba tuổi - chỉ ít lâu sau thì cụ chỉ còn nằm trên giường tre cũ kỹ, thở hổn hển và hấp hối.
Những đêm dài, cụ Ra Xi nằm trằn trọc không ngủ được, nghe tiếng khóc đói của trẻ em từ khắp nơi trong làng, tiếng thở dài đau khổ của các bậc phụ huynh, tiếng than khóc của những người vợ có chồng phải đi xa tìm việc. Cụ biết mình đã không thể cứu được làng mình, lòng cụ đau đớn vô cùng như có ai đang dùng dao cắt từng mảnh.
"Tôi đã làm trưởng làng mà không bảo vệ được dân làng mình..." - cụ thường tự trách mình như vậy.
Bệnh tình của cụ ngày càng nặng thêm. Từ chỗ chỉ là lo lắng quá độ, giờ đây cụ đã phát triển thành bệnh nặng thực sự. Cụ sốt cao, ho khan, người gầy còm như que củi. Bà con trong làng thay nhau chăm sóc cụ, nhưng trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy, họ cũng chẳng có thuốc men gì để chữa cho cụ.
Y Khan xuống dưới làng để thăm cụ. Khi nàng đến, mọi người trong làng cũng đều tập trung đến nhà cụ rất đông. Căn nhà gỗ nhỏ bé của cụ chật kín người, từ những đứa trẻ nhỏ đến những người già nhất trong làng, ai nấy đều có mặt tại giây phút cuối cùng của người trưởng làng đáng kính, họ cùng nhìn Y Khan trong im lặng, ngỡ như có một sự trách móc vô hình mà họ chẳng dám tùy tiện thốt ra lời.
Cụ Ra Xi nằm trên chiếc giường tre, khuôn mặt xanh xao, đôi mắt lờ đờ nhưng vẫn tỏa ra ánh sáng hiền từ. Khi thấy Y Khan, cụ cố gắng nhoài người lên, đôi bàn tay gầy guộc và lạnh lẽo của cụ nắm lấy tay nhỏ nhắn của nàng. Y Khan rớt nước mắt, nói:
“Mạng của cụ đã sắp tận rồi, phép thuật của thánh điện cũng không thể cứu được cụ khỏi quy luật sinh tử.”
Cụ nói:
"Tôi sắp đi rồi nên cũng chẳng còn sợ hãi gì nữa, tôi chỉ xót thương cho những mảnh đời sinh linh lầm than vô tội trong làng Thạt Na này mà thôi. Giờ đây hoàng thân đã phẫn nộ, cũng không thể thay đổi gì được nữa, mọi người phải cùng nhau cố gắng vượt qua. Đây có lẽ là tai họa mà Thần Linh để thử thách lòng tin của chúng ta, vượt qua được nó thì ta sẽ được bình an và hạnh phúc hơn. Đây không phải là lỗi của Klum, đừng ai trách móc Klum cả. Klum có lòng từ bi, đó là điều quý báu nhất. Chúng ta phải giữ lòng tin vào Thần Linh.”
Nói rồi cụ qua đời trong sự tiếc thương vô hạn của cả làng. Tiếng khóc than bi thảm vang lên trong căn nhà nhỏ, rồi lan ra khắp làng. Mọi người đều cảm thấy như mất đi một người cha, một người bảo vệ, một cây đại thụ che chở cho cả cộng đồng.
Y Khan khóc một ngày một đêm ròng. Nàng cảm thấy có lỗi với cụ Ra Xi và với cả làng, nhưng vẫn không thể thay đổi quyết định của mình.
Thương tiếc cụ Ra Xi và cũng xót xa cho chính số phận của ngôi làng mình, nhiều người trong làng đã bắt đầu ấm ức và phẫn uất với Y Khan lắm. Họ hiểu rằng Klum có lòng từ bi, nhưng lòng từ bi ấy đã mang lại thảm họa cho cả cộng đồng. Một số người thậm chí bắt đầu thì thầm rằng Y Khan đã quá kiêu ngạo khi dám chống lại quyền lực của hào trưởng.
Nhưng nghĩ tới lời căn dặn của cụ Ra Xi trước khi mất, và vì sự tôn nghiêm từ bao đời nay dành cho điện thần cũng như Klum, chẳng ai dám nói ra lời nào một cách công khai. Thái độ của họ đối với Y Khan từ sau cái chết của cụ, đã lạnh nhạt đi rất nhiều rồi.
Khi Y Khan đi qua làng như những lần trước, người dân không còn chào hỏi nồng nhiệt và cung kính như trước nữa. Họ chỉ cúi đầu một cách máy móc và lạnh lùng, rồi nhanh chóng tránh mặt và đi về hướng khác. Những đứa trẻ từng vây quanh Y Khan một cách thân thiết khi nàng xuống làng giờ đây cũng được cha mẹ dắt đi xa, không cho chúng đến gần nàng nữa.
Thậm chí có người còn nghĩ rằng Y Khan đã bị quỷ ma ám, nên mới cứng đầu chống lại quyền lực và không biết nghĩ cho dân làng.
Y Khan cảm nhận được sự thay đổi thái độ này một cách rõ ràng, nhưng nàng vẫn cứ ngày ngày cầu nguyện trong thánh điện trước tượng Đức Mẹ Nagini. Nàng tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của Thần Linh và tin rằng các vị nữ Thần sẽ bảo vệ cho thánh địa cũng như cho người dân trong làng trước những thế lực tà ác và bất công.
Nàng trải qua những giờ phút thống khổ tận cùng, tự hỏi liệu mình có đang làm đúng hay không? Nội tâm của nàng đấu tranh một cách mãnh liệt. Những đêm khuya, nàng thường ngồi trước bàn thờ và tự vấn lòng mình:
"Có phải con đã sai khi không giao Chiềng Phạn ra? Có phải lòng từ bi của con đã trở thành nguyên nhân gây khổ đau cho nhiều người vô tội? Các đức Thánh Mẫu ơi, xin chỉ đường cho con..."
Nhưng mỗi khi nhìn thấy Chiềng Phạn đang dần dần hồi phục dưới sự chăm sóc của mình, thấy ánh mắt biết ơn vô hạn của anh ta, Y Khan lại cảm thấy mình đã làm đúng. Anh ta là một con người, là một người cha, một người con, có quyền được sống và được cứu chữa.
Y Khan chữa chạy cho Chiềng Phạn mà không hề e ngại gì về chứng bệnh đáng sợ của anh ta. Đây là người đã bị bệnh Hủi ở giai đoạn nặng, tóc đã rụng rất nhiều để lộ những mảng da đầu sần sùi, lông mi và lông mày cũng chỉ còn rất thưa thớt. Trên mặt anh ta nổi đầy những cục sần nhỏ màu đỏ tím, và tay chân thì lở loét hết ra ở các ngón và các lóng tay, nhìn rất ghê rợn và đáng sợ. Nhưng Y Khan không vì thế mà xa lánh hay kì thị anh, Y Khan có bên cạnh các Mộc Nhân thuật mới là Ấn Mộc Nhân và Xạ Mộc Nhân - những linh vật bảo hộ mạnh mẽ - nên nàng không thể bị lây nhiễm bởi các chứng bệnh này. Hơn thế nữa, nàng tin rằng lòng từ bi chân thật sẽ được Thần Linh phù hộ.
Sự quan tâm, gần gũi ân cần của Y Khan làm cho Chiềng Phạn xao xuyến trong lòng đến mức tột cùng. Cô có vẻ ngoài đẹp tới say đắm, và nội tâm của cô còn đẹp hơn cả vẻ bên ngoài của cô nữa. Cô không chỉ xinh đẹp mà còn có trái tim nhân ái, không chỉ có quyền năng mà còn có lòng từ bi sâu sắc.
Chiềng Phạn đã có vợ con, có một gia đình mà anh ta yêu thương, nhưng từ khi anh ta đã sống ở khu cho người Hủi lâu nay, vợ con cũng không thể gần gũi gì với anh ta cả vì sợ lây nhiễm. Đã lâu lắm rồi anh lại mới được gần gũi ân cần với một người phụ nữ, được ai đó chăm sóc với tình thương chân thật.
Mùi hương thơm thoang thoảng trên người Y Khan - mùi hương của hoa sen, của trầm hương, của sự trong sạch - mỗi khi cô ở gần để thay băng các vết loét cho anh làm hắn xao xuyến tới điên đảo. Nhưng anh cũng đau khổ vì biết rõ vị trí của mình. Anh là ai? Nàng là ai? Anh lấy tư cách gì để nói ra tấm chân tình của mình với Y Khan đây?
Cô là đấng quyền năng, là một Thánh nữ được dân chúng tôn thờ, là người ở thế giới cao quý mà vĩnh viễn những kẻ hèn mọn còn không bằng loài súc vật như anh chẳng bao giờ có thể với tới được. Anh chỉ là một người nông dân nghèo khổ, lại còn mắc bệnh tật đáng sợ, bị xã hội ruồng bỏ.
Chiềng Phạn chỉ biết ôm nỗi tâm tư đầy mâu thuẫn đó trong lòng. Anh ta vừa biết ơn Y Khan vô hạn, vừa yêu thương cô say đắm, nhưng cũng vừa cảm thấy tội lỗi vì những tình cảm không phù hợp ấy. Đã bao nhiêu đêm anh nằm tơ tưởng về Y Khan trong túp lều tạm bợ được dựng cạnh thánh điện, nhìn lên trời sao và mơ về những điều không thể có được.
Y Khan đã tặng Chiềng Phạn một con hình nhân nhỏ, được tạc từ gỗ trầm hương, có khuôn mặt hiền từ giống như nàng. Hắn luôn mang hình nhân xinh đẹp bên cạnh không rời, kể cả khi ngủ cũng ôm chặt vào lòng. Mỗi khi nhìn hình nhân, hắn lại nhớ tới Y Khan, nhớ đến đôi bàn tay nhỏ nhắn đã chạm vào hình nhân này, nhớ đến nụ cười dịu dàng mà nàng đã dành cho hắn khi trao tặng món quà nhỏ này.
Thời gian thấm thoắt trôi đi, cũng đã hơn ba tháng trôi qua kể từ ngày Chiềng Phạn được Y Khan chăm sóc.
Buổi chiều hôm đó, Y Khan đi vào rừng để hái nấm thảo mộc, chỉ có một mình Chiềng Phạn ở lại trong lán tranh trước điện thần.
Bỗng nhiên cửa lán thác lên một cách bạo lực, có một người đàn ông mặc đồ kị sĩ, chân đi bốt cao bằng da, vai đeo cung tên và tay cầm kiếm sắc bén bước vào trong lán. Ánh mắt hắn ta lạnh lùng và hung dữ, trông như một sát thủ lão luyện. Hắn chĩa kiếm vào Chiềng Phạn rồi nói bằng giọng không có chút cảm xúc:
"Có người muốn gặp ông, đứng dậy và đi theo tôi ngay lập tức. Nếu la lên hay chống cự thì chết ngay tại chỗ."
Chiềng Phạn sợ hãi run rẩy, anh ta biết mình không có khả năng chống lại, chỉ có thể nghe theo. Hắn ta dẫn Chiềng Phạn ra khỏi thánh địa, đi qua những con đường vắng vẻ ít người qua lại trong rừng.
Đi tới một nơi hoang vắng giữa rừng sâu, Chiềng Phạn mới được biết người muốn gặp hắn chính là hào trưởng Thà Rặt. Ngài đang ngồi trên lưng con ngựa chiến to lớn, ánh mắt nhìn xuống hắn đầy khinh miệt và ghê tởm, như nhìn một con côn trùng bẩn thỉu.
Xung quanh có khoảng mười tên lính cận vệ, ai nấy đều vũ trang đầy đủ và sẵn sàng hành động theo lệnh của hào trưởng.
Thà Rặt nói thẳng vào vấn đề, giọng nói lạnh lùng và đầy đe dọa chết chóc:
"Nghe đây, thằng Hủi khốn nạn. Ta đã điều tra rõ về ngươi và gia đình ngươi rồi. Ta muốn ngươi làm một việc cho ta, và đây không phải là yêu cầu mà là mệnh lệnh. Ngươi phải tìm cách làm cho Y Khan mất đi sự trong trắng trinh khiết của nàng, làm ô uế thân thể thánh thiện của nàng. Nếu ngươi làm việc đó, ta sẽ xóa bỏ tội lỗi, tha mạng cho ngươi, còn cho ngươi một khoản tiền lớn để nuôi gia đình, và cho gia đình ngươi một mảnh đất tốt để canh tác. Còn nếu ngươi không chịu làm hoặc dám phản bội ta..."
Thà Rặt dừng lại, ra hiệu cho một tên lính. Tên lính ấy lấy ra một cái túi nhỏ và đổ những thứ bên trong ra...
"Mẹ ngươi đã chết bởi sợ hãi. Còn đây là tai của vợ ngươi, ngón tay của con trai ngươi, và một lọn tóc của con gái ngươi. Ta đã bắt cả gia đình ngươi rồi. Nếu ngươi không làm theo lệnh của ta, thì tất cả người nhà của người sẽ chết.”
Chiềng Phạn nghe xong đứng thẫn thờ như người mất hồn. Trong đầu hắn quay cuồng hàng nghìn suy nghĩ hỗn loạn. Hắn yêu Y Khan, nhưng làm sao có thể làm hại cô? Nhưng nếu không làm, cả gia đình hắn sẽ chết.
Hào trưởng Thà Rặt nhìn vẻ mặt thống khổ và hoảng loạn của Chiềng Phạn rồi nói tiếp với giọng điệu của kẻ thích thú khi thấy nạn nhân đau khổ:
"Ta cho ngươi ba ngày để suy nghĩ và thực hiện. Nhớ rằng, ta biết rõ từng việc ngươi làm, ta có người theo dõi ngươi mọi lúc. Ta có thể giết gia đình ngươi bất cứ lúc nào ta muốn. Ngươi không thể chạy trốn, không thể cầu cứu ai, vì không ai dám chống lại ta cả. Đây là cơ hội duy nhất của ngươi để cứu gia đình, ngươi hãy suy nghĩ cho thận trọng.”
Thế rồi Thà Rặt bỏ đi, để lại Chiềng Phạn đứng run run một mình trong rừng tối, trong sự hoảng loạn và đau khổ tột cùng. Hắn té ngồi xuống đất, ôm đầu và khóc như một đứa trẻ bị bỏ rơi.
Số phận đã đẩy hắn vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan tàn khốc: một bên là người phụ nữ hắn yêu thương và kính trọng nhất, một bên là gia đình hắn - những người hắn không thể sống thiếu. Bất kể hắn chọn con đường nào, hắn cũng sẽ phải mang tội ác và đau khổ đến chết.